PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết - Lý do lựa chọn đề tài Nhằm mục tiêu thực trở thành công cụ thực hiện các chính sách của Nhà nƣớc, trên cơ sở là Quỹ Hỗ trợ Phát triển Việt Nam,Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đƣợc thành lập vào năm 2006. Từ những ngày đầu thành lập cho tới nay, VDB đã thực hiện vai trò của mình thông qua việc tập trung cho vay vốn vào các lĩnh vực mang lại lợi ích kinh tế - xã hội. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, Chính phủ đã có nhiều chính sách nhằm xây dựng môi trƣờng kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp và khuyến khích đầu tƣ, trong đó có nhiều dự án có nhu cầu vay vốn tín dụng để đƣợc hƣởng những lãi suất ổn định cũng nhƣ thời gian cho vay ƣu đãi.
Đây là tín hiệu đáng mừng cho nền kinh tế nhƣng cũng là nhiệm vụ và trách nhiệm lớn đối với VDB cần phải hoàn thiện hơn nữa nghiệp vụ cho vay trong hệ thống. Tuy nhiên, cho vay là một nghiệp vụ quan trọng và là nghiệp vụ có tính rủi ro cao nhất. Chính vì vậy, công tác kiểm tra vay nói riêng có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng. Khi quá trình cho vay không đƣợc giám sát chặt chẽ sẽ tạo nhiều lỗ hổng, gây ra những hậu quả nhƣ nợ xấu tăng cao, các khoản vây mất khả năng trả nợ gây thất thoát vốn của Nhà nƣớc, sai phạm của cán bộ viên chức trong việc cấp tín dụng,.
Ngoài việc đảm bảo tính hợp pháp và hợp lệ của công tác cho vay, công tác kiểm tra cho vay còn đảm bảo hiệu lực quản lý và hiệu quả trong khai thác và sử dụng nguồn vốn. Là Chi nhánh chiếm tới gần 1/3 tổng dƣ nợ của toàn hệ thống VDB, Sở Giao dịch I (SGDI) đã đánh giá đúng mức vai trò quan trong của công tác kiểm tra cho vay nhằm hạn chế thấp nhất những rủi ro và sai sót cũng nhƣ những ảnh hƣởng của nó trong quá trình cho vay, tránh thất thoát vốn Nhà nƣớc. Tuy nhiên, trƣớc sự phát triển và mở rộng của các dự án/khoản vay, công tác kiểm tra tại SGDI vẫn còn nhiều hạn chế trong bộ máy kiểm tra, công tác dự đoán các rủi ro, 2 nhiều sai sót chƣa đƣợc phát hiện kịp thời, sai sót có tình trạng lặp lại,. Trƣớc thực tế trên, đề tài "Hoàn thiện công tác kiểm tra cho vay tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng phát triển Việt Nam" nhằm đánh giá công tác kiểm tra cho vay, đƣa ra những định hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra trong việc cho vay vốn tín dụng của Nhà nƣớc.
Tổng quan nghiên cứu Công tác kiểm tra cho vay đƣợc giao chomột bộ phận thƣờng đƣợc gọi là Phòng/Ban/Bộ phận Kiểm tra nội bộ (KTNB) hoặc Kiểm soát nội bộ (KSNB).Theo Quyết định số 03/1998/QĐ-NHNN3 ngày 3/1/1998 về tổ chức và hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ trong các tổ chức tín dụng(TCTD) hoạt động tại Việt Nam: “Các tổ chức tín dụng ViệtNam thiết lập một bộ phận chuyên trách, với tên gọi khác nhau (Ban kiểm tra nội bộ, Phòng kiểm tra nội bộ, Phòng kiểm tra, kiểm soát), chịu sự quản lý, điều hành của Tổng Giám đốc (Giám đốc) theo hệ thống ngành dọc tại trụ sở chính (Phòng, Ban) và tới các chi nhánh (phòng kiểm tra, kiểm soát hoặc bố trí một cán bộ chuyên trách làm công tác kiểm tra, kiểm soát) nhằm kiểm tra, giám sát quá trình hoạt động của đơn vị”. Những năm gần đây, công tác KTNB ngân hàng đang dần đƣợc chú ý đầu tƣ nghiên cứu để giảm thiểu rủi ro, khắc phục những tồn tại yếu kém của hệ thống KTNB. Phạm Thanh Thủy và các thành viên nhóm nghiên cứu1, hệ thống KSNB của hệ thống các NHTM tại Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề nhƣ: chức năng quản trị rủi ro, nhận diện, đánh giá và ứng phó với rủi ro của hệ thống KSNB còn hạn chế; Các nguyên tắc thiết kế hoạt động kiểm soát chƣa đƣợc đƣợc tuân thủ một cách đầy đủ; chƣa có sự liên kết kiểm tra và đánh giá lẫn nhau giữa các bộ phận; Tính chính trực cũng nhƣ các giá trị về đạo đức không đƣợc coi trọng. Tác giả đƣa ra một số giải pháp nhƣ hoàn thiện cơ sở pháp 1 TS.
Phạm Thanh Thủy và các thành viên tham gia “Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại Việt Nam và một số khuyến nghị”, Đề tài khoa học cấp bộ, (2016), 3 lý, hoàn thiện môi trƣờng kiểm soát, hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro, hoàn thiện hệ thống thông tin và truyền thông, hoàn thiện nguồn nhân lực. Nguyễn Phi Lân và các thành viên nhóm nghiên cứu2, công tác kiểm tra và giám sát các TCTD của NHNN Việt Nam hiện nay chƣa theo kịp sự phát triển của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, vì vậy chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu kiểm tra giám sát của NHNN.Nghiên cứu đã đánh giá tổng quan về các phƣơng pháp xây dựng mô hình cấu trúc đƣợc các Ngân hàng trung ƣơng cũng nhƣ các tổ chức trên thế giới áp dụng cũng nhƣ phƣơng pháp luận xây dựng mô hình cấu trúc. Thông qua việc khảo sát các TCTD về cấu trúc, quy mô, về mức độ an toàn và lành mạnh, khảo sát về các loại rủi ro, nghiên cứu cho thấy mặc dù trong giai đoạn vừa qua sự phát triển của hệ thống các TCTD còn thiếu bền vững, tiềm ẩn rủi ro hệ thống, thể hiện thông qua việc nhiều chỉ số hiện ở mức cảnh báo. Theo Phạm Thị Trà My3, Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Đà Nẵng gặp phải những vƣớng mắc chủ yếu về tổ chức bộ máy kiểm soát, các cán bộ làm việc tại chi nhánh vừa thực hiện nghiệp vụ chuyên môn của mình vừa thực hiện kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các phòng ban Việc kiểm soát công tác tín dụng thực hiện chƣa đƣợc đầy đủ, chƣa chặt chẽ, chƣa kịp thời và chƣa thƣờng xuyên làm cho nợ xấu của chi nhánh ngày càng tăng trong thời gian qua.
Tác giả đề xuất tăng cƣờng kiểm soát nội bộ tại chi nhánh; nâng cao chất lƣợng các chính sách tín dụng và chính sách khách hàng trong hoạt động tín dụng; tăng cƣờng cập nhật thông tin khách hàng, thực hiện kiểm tra quá trình đầy đủ và thƣờng xuyên; nâng cao năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ kiểm soát. Nguyễn Phi Lânvà các thành viên tham gia, “Xây dựng và ứng dụng mô hình cấu trúc trong hoạt động thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng”, Đề tài khoa học cấp bộ, (2016) 3 Phạm Thị Trà My (2011), “Tăng cường kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Đà Nẵng”, Luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng 4 Các tác giả Nguyễn Danh Sơn4 và Nguyễn Thị Việt Anh5 đã nghiên cứu công tác KSNB tại Ngân hàng Công thƣơng Việt Namvà Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. Các đơn vị thuộc đối tƣợng nghiên cứu đều có những tồn tại trong hệ thống KSNB tƣơng đồng với nhau nhƣ hệ thống KSNB bị ảnh hƣờng tới sự khách quan, độc lập, nhân lực của bộ phận làm công tác kiểm tra chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu tình hình thực tế, công tác đánh giá rủi ro không hiệu quả, thủ tục kiểm soát cho vay vẫn còn sơ sài và mang tính hình thức, …. Trƣớc tình hình trên, các tác giả đã đƣa ra một số giải pháp về nâng cao hệ thống công nghệ trong quản lý rủi ro, thực hiện kiểm tra thƣờng xuyên và toàn diện, hoàn thiện nguồn nhân lực, tăng cƣờng giám sát khách hàng sử dụng đồng vốn, nâng cao chất lƣợng đánh giá rủi ro.
Trong hệ thống VDB, đã có một số bài viết nghiên cứu về công tác kiểm tra nội bộ đăng trên Tạp chí Hỗ trợ Phát triển của VDB. Ngọc Châu (Ban Kiểm tra Nội bộ - VDB)6 đã chỉ ra: Qua tổng hợp, phân tích kết quả kiểm tra toàn hệ thống cho thấy, hầu hết tồn tại, sai sót xoay quanh các “thuộc tính” hợp pháp, hợp lý, hợp lệ. Tựu trung có 04 điều cần đƣợc lƣu tâm đó là: Thiếu tính trung thực của một số chủ đầu tƣ/khách hàng; Thiếu tính chuyên nghiệp; Thiếu tính khoa học trong công tác quản lý giám sát; Thiếu tính hiệu quả trong sử dụng “công cụ” kiểm tra. Và để giải quyết những bất cập này, tác giả đã đƣa ra giải pháp nhƣ nâng cao nhận thức đối với công tác kiểm tra; đào tạo, tự đào tạo nhằm bổ sung kiến thức cũng nhƣ hoàn thiện kỹ năng; hoàn thiện quy trình tác nghiệp; chuẩn hóa các bảng biểu để tạo sự thống nhất.
4 Nguyễn Danh Sơn (2009), Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, “Tăng cường kiểm soát nội bộ đối với hoạt động cho vay tại Ngân hàng Công thương Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội 5 Nguyễn Thị Việt Anh (2014), “Nâng cao hiệu quả kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam giai đoạn 2013-2016”, Luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. 6 Ngọc Châu (Ban Kiểm tra Nội bộ VDB), “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra nội bộ trong hệ thống NHPT”, Tạp chí Hỗ trợ Phát triển số ra tháng 10/2015 5 Trần Thị Ngọc Hoa (Chi nhánh VDB Khu vực Nam Định - Hà Nam)7 đã nêu một số vƣớng mắc trong quá trình thực hiện những văn bản hƣớng dẫn của VDB. Trong thời gian qua, để phục vụ một số nhiệm vụ cần thiết, VDB đã ban hành một số mẫu kê hồ sơ có nội dung, kết cấu khác nhau. Qua đó, tác giả đề xuất VDB nghiên cứu ban hành đối với mỗi nghiệp vụ một mẫu kê hồ sơ thống nhất có tính ổn định lâu dài, đƣợc sử dụng cho mọi yêu cầu lƣu trữ, rà soát, phục vụ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và bàn giao trong toàn hệ thống.
Tác giả Trƣơng Thị Hoài Linh 8 cho rằng, để VDB thúc đẩy hiệu quả phát triển nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các dự án phát triển thì VDB không thể hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, tuy đây không phải là mục tiêu cuối cùng. Bên cạnh đó, tác giả đề xuất cần đa dạng hóa đối tƣợng tài trợ cho dự án phát triển với đầu mối là VDB. Để làm đƣợc điều này thì cần bổ sung các quy định giám sát và kiểm tra việc hạch toán giữa trong các tổ chức tín dụng tham gia tài trợ dự án.