Chương 1. Những nội dung cơ bản về công cụ nghiệp vụ thị trường mở. Thực trạng sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2011 đến nay. Giải pháp hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam thời gian tới.
-3- CHƢƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CÔNG CỤ NGHIỆP VỤ THỊ TRƢỜNG MỞ 1. CÔNG CỤ NGHIỆP VỤ THỊ TRƢỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG 1. Khái niệm công cụ nghiệp vụ thị trƣờng mở OMO là một công cụ CSTT linh hoạt, có hiệu quả cao, đã và đang được các nước trên thế giới sử dụng nhiều trong điều hành CSTT quốc gia. OMO là nghiệp vụ mua, bán các GTCG của NHTW với các đối tác trên thị trường mở nhằm thực hiện CSTT quốc gia.
Các đối tác giao dịch mua, bán với NHTW có thể là các TCTD, các doanh nghiệp hoặc các tổ chức phi tài chính khác. Thông qua hoạt động mua, bán GTCG, NHTW tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống ngân hàng và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng. Như vậy, có thể hiểu khái quát nhất, “nghiệp vụ thị trường mở” là hoạt động mua bán các GTCG giữa NHTW với các đối tác được lựa chọn để qua đó tác động tới lãi suất của thị trường hoặc dự trữ của các đối tác đó. Có hai loại OMO: - OMO năng động là trong đó NHTW chủ động tiến hành nghiệp vụ nhằm thay đổi mức dự trữ và cơ số tiền tệ theo hướng mà ngân hàng thấy cần thiết.
- OMO thụ động được tiến hành nhằm bù lại những chuyển động của các nhân tố khác đã ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ. Chẳng hạn, khi tiền gửi của kho bạc và của các ngân hàng trung gian tại NHTW được dự đoán là giảm xuống, điều này đồng nghĩa với một sự tăng lên của tổng lượng tiền trong lưu thông, NHTW sẽ phải tiến hành bán chứng khoán trên thị trường mở để giảm lượng tiền trong lưu thông. Cơ chế tác động của công cụ nghiệp vụ thị trƣờng mở Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tác động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng, làm thay đổi tổng lượng tiền cung ứng tiền tệ và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất trên thị trường, nhằm hướng đến các mục tiêu của CSTT. Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng Khi NHTW tiến hành bán GTCG, nó sẽ làm giảm ngay lập tức dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW và tiền gửi của khách hàng tại NHTM.
Chẳng hạn, bằng việc bán tín phiếu kho bạc cho các đối tác, NHTW có thể làm giảm đi một khối lượng dự trữ tương ứng (nếu các nhân tố khác không đổi), dù người mua là NHTM hay khách hàng của nó. Nếu người mua là khách hàng của NHTM thì số tiền mua tín phiếu sẽ làm giảm số dư tiền gửi của khách hàng đó tại NHTM. Nếu người mua là NHTM thì số tiền mua tín phiếu sẽ làm giảm lượng dự trữ của NHTM dẫn đến giảm khả năng cho vay và vì thế mà giảm khối lượng tiền cung ứng của NHTM. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng NHTW Dự trữ Dự trữ mở Khối MS bán NH rộng cho lƣợng TD giảm (mua) giảm vay giảm giảm (tăng) GTCG (tăng) (tăng) (tăng) Ngược lại, khi NHTW thực hiện mua GTCG trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên.
Tác động này có thể xem xét qua công thức sau: MB = C + R MS = m x MB Trong đó: MS: lượng tiền cung ứng MB: cơ sở tiền tệ C: tiền mặt R: dự trữ thực tế trong hệ thống ngân hàng thương mại m: số nhân tiền -5- Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ mua, bán trên thị trường mở nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng. Tác động qua lãi suất Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường mở của NHTW có ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua hai con đường: Sơ đồ 1. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất Cung GTCG Giá GTCG LS thị trƣờng tăng (giảm) giảm (tăng) tăng (giảm) NHTW bán Đầu tƣ (mua) GTCG giảm (tăng) Dự trữ NH Cung quỹ cho Lãi suất ngắn Lãi suất thị giảm (tăng) vay giảm hạn tăng trƣờng tăng (tăng) (giảm) (giảm) Thứ nhất, khi vốn khả dụng của các NHTM giảm (tăng) do tác động của hoạt động thị trường mở, mức cung tiền trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng giảm xuống (hoặc tăng lên) trong điều kiện các yếu tố liên quan không đổi, lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng lên (giảm xuống). Thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động hoán đổi lãi suất sẽ dẫn truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính.
Kết quả là chi phí cơ hội đối với người có vốn dư thừa và giá vốn đầu tư đối với người thiếu hụt vốn tăng lên (hoặc giảm xuống), làm giảm (hoặc tăng) nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng của xã hội, và do đó làm giảm (hoặc tăng) sản lượng, giá cả, công ăn việc làm. -6- Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu về loại GTCG đó trên thị trường mở và giá cả của nó. Khi giá GTCG thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi. Nếu đó là loại chứng khoán chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch trên thị trường thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD và sản lượng.
Chẳng hạn, khi NHTW bán chứng khoán, cung chứng khoán tăng lên trong khi nhu cầu chứng khoán không đổi làm cho giá chứng khoán giảm xuống, mức sinh lời của chứng khoán tăng lên, dẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang chứng khoán. Để cân bằng lãi suất và hạn chế dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên. Khi lãi suất thị trường tăng lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽ giảm xuống do tỷ suất sinh lời giảm. Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
Các thành viên tham gia nghiêp vụ thị trƣờng mở Tất cả các nhà đầu tư đều có thể là đối tác với NHTW trong OMO nếu nó thỏa mãn những tiêu chuẩn cụ thể của NHTW các nước. Các tiêu chuẩn này thường nhằm vào hai mục đích: i/ các đối tác phải đảm bảo độ tin cậy nhất định và ii/ việc giao dịch với các đối tác đó có hiệu quả xét ở khía cạnh can thiệp của NHTW. Thông thường các chủ thể giao dịch trên OMO gồm: 1. Ngân hàng trung ương NHTW tham gia OMO với tư cách là người tổ chức, xây dựng và điều hành các hoạt động OMO đồng thời là người mua hoặc người bán trên thị trường.
Nếu NHTW quyết định tham gia thị trường với tư cách là người mua thì tất cả các chủ thể còn lại muốn tham gia chỉ được tham gia với tư cách là người bán và ngược lại. NHTW cũng là người có quyền quyết định chủng loại hàng hóa mua bán, khối lượng hàng hóa mua bán, phương thức giao dịch, thời gian tiến hành mua bán, phương thức thanh toán,… trong từng phiên giao dịch mà tất cả các chủ thể khác phải thực hiện nếu muốn tham gia. Ngoài ra, NHTW tham gia OMO còn để điều tiết lượng tiền cung ứng, cũng như gián tiếp tác động đến lãi suất thị trường nhằm thực hiện và duy trì mục tiêu của CSTT quốc gia, đồng thời ổn định hoạt động hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Các đối tác của NHTW a.
Các ngân hàng thương mại NHTM là một trong những chủ thể quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển của thị trường mở. Với vai trò là trung gian tài chính có mạng lưới hoạt động rộng, khối lượng giao dịch chiếm chủ yếu, nhân viên am hiểu về nghiệp vụ, chính sách nên mỗi sự thay đổi dự trữ của các NHTM sẽ gây ảnh hưởng nhiều chiều đến khối lượng tiền cung ứng theo mong muốn của NHTW. Mục đích các NHTM tham gia OMO là nhằm mua bán kiếm lợi cho chính ngân hàng dựa vào các khoản vốn dư thừa, điều hòa mức dự trữ ngân quỹ để duy trì khả năng thanh toán, phân tán rủi ro và tạo vị thế của ngân hàng với NHTW và với các đối tác. Các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng Động cơ tham gia OMO của các tổ chức tài chính phi ngân hàng như: các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, các hội tiết kiệm nhà ở và các định chế tài chính khác,…là để kiếm thu nhập qua việc sử dụng vốn nhàn rỗi để mua, bán các chứng khoán có giá ngắn hoặc dài hạn.
Các tổ chức này thường có khối lượng chứng khoán lớn, thường xuyên thay đổi cơ cấu danh mục đầu tư nhằm đảm bảo mức sinh lời cao nhất và rủi ro dự tính thấp nhất. Hành vi giao dịch của NHTW với các tổ chức này có tác dụng trực tiếp tới khối lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất thị trường qua sự biến động giá cả của loại chứng khoán được giao dịch. Các doanh nghiệp sản xuất- kinh doanh lớn Các chủ thể này thường nắm giữ thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu chính phủ hoặc ngoại tệ. Họ có nhu cầu bán chứng khoán (bán hẳn hoặc là tạm thời) để đổi ra tiền mặt đáp ứng nhu cầu kinh doanh hoặc để kiếm lời trong thời gian ngắn.
Những hoạt động mua bán trên đây của các doanh nghiệp sản xuất- kinh doanh lớn có thể do họ trực tiếp thực hiện, hoặc có thể tiến hành qua những môi giới chuyên nghiệp, hay qua sự môi giới của các NHTM. Các cá nhân và hộ gia đình Động cơ tham gia thị trường mở của các hộ gia đình là để: i/ Phục vụ cho mục đích giao dịch, ii/ Phục vụ cho mục đích phòng ngừa rủi ro bất ngờ, iii/ Đầu tư kiếm lời nhờ sự thay đổi về lãi suất dự đoán.Tuy nhiên, do độ tin cậy thấp nên sự tham gia -8- của các chủ thể này rất hạn chế. Thông thường, chủ thể này giao dịch qua các công ty chứng khoán.