Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp tập trung giải quyết yêu cầu hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operations - OMO) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong bối cảnh kinh tế vĩ mô giai đoạn 2011–2014 có nhiều biến động phức tạp.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Từ năm 2011 đến thời điểm nghiên cứu (tháng 5/2014), nền kinh tế thế giới đối mặt với cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu lan rộng và xu hướng đảo chiều chính sách tiền tệ. Tại Việt Nam, nền kinh tế gặp áp lực lớn từ lạm phát tăng cao, tăng trưởng chậm lại, nợ xấu ngân hàng tăng đột biến và thị trường chứng khoán suy giảm.

Để ngăn ngừa suy thoái và kiềm chế lạm phát, NHNN đã vận hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, trong đó nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò trọng yếu trong việc điều tiết thanh khoản hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) và định hướng lãi suất thị trường. Mặc dù đạt được những kết quả nhất định, hoạt động OMO vẫn bộc lộ các điểm nghẽn về danh mục hàng hóa, cơ chế đấu thầu, công tác dự báo vốn khả dụng và tính liên thông thị trường, đòi hỏi phải có nghiên cứu toàn diện nhằm hoàn thiện công cụ này.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Khóa luận đặt mục tiêu làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện OMO thông qua việc trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam từ năm 2011 đến nay đã được thực hiện như thế nào?
  2. Việc thực hiện nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam từ năm 2011 đến nay đã mang lại những kết quả gì và phải đối mặt với những thách thức như thế nào?
  3. Để hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế bất ổn như hiện nay cần có những hướng giải pháp nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống ngân hàng Việt Nam, trọng tâm là NHNN và các tổ chức tín dụng tham gia OMO.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn tập trung từ năm 2011 đến đầu năm 2014, có sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp từ khi thành lập thị trường mở (năm 2000) đến năm 2013 để so sánh, đối chiếu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình vận hành

Nghiệp vụ thị trường mở được định nghĩa là hoạt động mua, bán giấy tờ có giá (GTCG) giữa Ngân hàng Trung ương (NHTW) với các đối tác được lựa chọn nhằm tác động tới dự trữ của hệ thống ngân hàng và lãi suất thị trường, qua đó điều tiết khối lượng tiền cung ứng ($MS$).

Khóa luận phân loại OMO theo hai hình thức:

  • OMO năng động: NHTW chủ động can thiệp nhằm thay đổi mức dự trữ và cơ số tiền tệ.
  • OMO thụ động: Tiến hành nhằm triệt tiêu hoặc bù đắp những biến động bất thường ngoài dự tính của các yếu tố khác ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ (như biến động tiền gửi Kho bạc).

Cơ chế truyền dẫn chính sách của OMO được xác định qua hai kênh chính:

  1. Kênh dự trữ ngân hàng: Tác động trực tiếp vào cơ số tiền tệ ($MB$) và lượng tiền cung ứng ($MS$) theo mô hình: $$MB = C + R$$ $$MS = m \times MB$$ (Trong đó: $C$ là tiền mặt lưu thông ngoài ngân hàng, $R$ là dự trữ thực tế của hệ thống NHTM, $m$ là số nhân tiền).
  2. Kênh lãi suất: Tác động thông qua việc thay đổi cung vốn khả dụng trên thị trường liên ngân hàng, dẫn truyền đến lãi suất ngắn hạn, trung và dài hạn; đồng thời tác động trực tiếp qua quan hệ cung - cầu và giá cả của các loại GTCG trên thị trường tài chính.

Về phương thức đấu thầu, khóa luận phân tích cơ chế phân bổ khối lượng trúng thầu:

  • Đấu thầu khối lượng: Tỷ lệ phân bổ thầu $k$ xác định theo công thức $k = \frac{A}{\sum_{i=1}^n b_i}$ (với $A$ là khối lượng chào thầu của NHTW, $b_i$ là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ $i$). Khối lượng trúng thầu $W_i = k \times b_i$.
  • Đấu thầu lãi suất: Phân bổ theo mức lãi suất từ cao xuống thấp (khi bơm tiền) hoặc từ thấp lên cao (khi hút tiền) theo kiểu Mỹ hoặc kiểu Hà Lan. Tại mức lãi suất sàn/trần được chấp nhận ($r_m$), tỷ lệ phân bổ tính theo: $$k(r_m) = \frac{A - \sum_{t=1}^{m-1} b(r_t)}{b(r_m)}$$

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích định tính, tổng hợp và so sánh số liệu thực chứng.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), Tạp chí Ngân hàng, các công trình nghiên cứu chuyên ngành và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN, Quyết định số 27/2008/QĐ-NHNN, Nghị định 24/2012/NĐ-CP, Thông tư 11/2011/TT-NHNN).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những nội dung cơ bản về công cụ nghiệp vụ thị trường mở

Chương 1 hệ thống hóa lý luận cơ bản về OMO của NHTW:

  • Chủ thể tham gia: Gồm NHTW (đóng vai trò tổ chức, điều hành và là một bên giao dịch), các NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, doanh nghiệp lớn, cá nhân hộ gia đình và các nhà giao dịch chuyên nghiệp (dealers).
  • Hàng hóa OMO: Tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương.
  • Phương thức giao dịch: Giao dịch không hoàn lại (mua đứt, bán đoạn) và giao dịch hoàn lại (các hợp đồng mua lại - Repos và Repos đảo ngược).
  • Chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn thiện OMO: Tính đầy đủ của khung pháp lý; mức độ đa dạng của danh mục GTCG; quy mô thành viên tham gia; doanh số và tần suất phiên giao dịch.
  • Nhân tố quyết định: Nhóm nhân tố chủ quan (quy định giao dịch, hạ tầng công nghệ thông tin, năng lực dự báo vốn khả dụng, chất lượng nhân sự) và nhóm nhân tố khách quan (sự phát triển của thị trường tiền tệ sơ cấp, vị trí pháp lý của NHTW theo 3 mô hình trực thuộc Chính phủ/Quốc hội/Bộ Tài chính, sự ổn định kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn).

Chương 2: Thực trạng sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2011 đến nay

Chương 2 phân tích bối cảnh áp lực điều hành và thực trạng vận hành OMO tại Việt Nam giai đoạn 2011–2014:

1. Các áp lực kinh tế vĩ mô đối với chính sách tiền tệ

  • Thị trường vàng: Sản xuất vàng trong nước chỉ đáp ứng 5% nhu cầu, phụ thuộc vào nhập khẩu nhưng NHNN đã dừng cấp phép từ tháng 5/2008. Năm 2013, tổng nhu cầu vàng Việt Nam đạt 92,2 tấn (4,16 tỷ USD, tăng 20% so với 2012, đứng thứ 7 thế giới). Sự chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và thế giới dẫn đến tình trạng buôn lậu và vàng hóa. Hệ số nhân tiền $M_2$ không tính vàng đạt khoảng 4,8 lần, nhưng khi tính gộp vàng chỉ còn 2,0 lần. NHNN đã ban hành Thông tư 11/2011/TT-NHNN chấm dứt huy động/cho vay vàng và can thiệp bán 57 tấn vàng trong 8 tháng đầu năm 2013 (gồm 30 tấn cho NHTM tất toán trạng thái).
  • Quy mô nợ công: Nợ công tăng nhanh từ 930 nghìn tỷ đồng (2010) lên trên 1.000 nghìn tỷ đồng (2011) và đạt 1.200 nghìn tỷ đồng (2012), tương đương 55,6% GDP. Cơ cấu nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn (>90% là ODA và vay ưu đãi, 7% vay thương mại), gây áp lực chuyển giao rủi ro tỷ giá và thu hẹp không gian điều hành CSTT độc lập.
  • Tình trạng nợ xấu: Tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến tháng 11/2013 là 4,55% (tăng 19,9% so với cuối 2012). Tổng nợ xấu được cơ cấu lại vượt 300.000 tỷ đồng (chiếm trên 10% tổng dư nợ). Công ty VAMC đã mua 28.170 tỷ đồng nợ gốc bằng trái phiếu đặc biệt từ 26 TCTD.

2. Thực trạng vận hành các cấu phần OMO

  • Khung pháp lý: Hoạt động dựa trên Luật NHNN (sửa đổi năm 2003 cho phép bổ sung GTCG trung - dài hạn), Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN, Quyết định số 27/2008/QĐ-NHNN, Quyết định 11/2010/QĐ-NHNN, Quyết định 1022/2004/QĐ-NHNN.
  • Hàng hóa: GTCG bắt buộc định danh bằng VND, lưu ký tại NHNN, thời hạn còn lại tối đa 91 ngày đối với mua/bán hẳn. Thực tế, tín phiếu Kho bạc Nhà nước chiếm khoảng 80% tổng giá trị công cụ giao dịch; còn lại là tín phiếu NHNN. Các công cụ thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi chưa phát sinh giao dịch thực tế.
  • Thành viên: Tăng từ 20 thành viên (năm 2000) lên 76 thành viên năm 2013 (gồm NHNN và 75 TCTD: 5 NHTM Nhà nước, 34 NHTM Cổ phần, 28 ngân hàng nước ngoài/chi nhánh, 6 ngân hàng liên doanh, 1 công ty tài chính, 1 Quỹ Tín dụng Nhân dân Trung ương). Tuy nhiên, số lượng thành viên thực tế tham gia đặt thầu mỗi phiên chỉ đạt 10–15 TCTD.
Tiêu chí thành viên 2005 2007 2009 2011 2012 2013
NHTM Nhà nước 5 5 5 5 5 5
NHTM Cổ phần 14 23 29 38 36 34
Ngân hàng nước ngoài/Chi nhánh 7 11 14 17 21 28
Ngân hàng liên doanh 1 2 4 6 6 6
Công ty tài chính & Quỹ TDNDTW 2 2 2 2 2 2
Tổng số thành viên 30 44 55 69 71 76
  • Phương thức giao dịch và đấu thầu: Giai đoạn 2011–2013 chủ yếu thực hiện mua có kỳ hạn (Repos) để hỗ trợ thanh khoản và bán hẳn tín phiếu NHNN để hút tiền; không thực hiện mua hẳn (ngừng từ 2003) và bán có kỳ hạn (ngừng từ 2009). Về phương thức đấu thầu, NHNN chủ yếu áp dụng đấu thầu khối lượng với lãi suất cố định công bố trước; các năm 2010, 2011 và 2013 không tổ chức đấu thầu lãi suất. Đấu thầu điện tử qua mạng AFD được vận hành từ tháng 11/2007.
Năm Tổng số phiên Mua hẳn Mua có kỳ hạn Bán hẳn Bán có kỳ hạn
2000 17 4 10 3 0
2005 158 0 150 6 2
2008 402 0 260 133 9
2010 491 0 490 1 0
2011 431 0 431 0 0
2012 378 0 299 79 0
2013 418 0 257 161 0
Tổng cộng (2000–2013) 3.503 8 2.534 932 29
  • Tần suất và Doanh số: Tần suất nâng từ 1 phiên/10 ngày (năm 2000) lên 1–2 phiên/ngày từ năm 2007. Doanh số giao dịch đạt đỉnh vào năm 2011 với 2.800.872 tỷ đồng (bình quân 6.498,54 tỷ đồng/phiên), sau đó giảm xuống 623.645 tỷ đồng (2012) và 434.236,48 tỷ đồng (2013) do sự thay đổi khuôn khổ điều hành tiền tệ và giảm phụ thuộc vào OMO khi thanh khoản hệ thống cải thiện.
Năm Doanh số mua (Tỷ đồng) Tăng trưởng (%) Tổng doanh số (Tỷ đồng) Tăng trưởng (%) Số phiên Doanh số BQ/phiên (Tỷ đồng)
2000 1.354,00 - 1.904,00 - 17 112,00
2005 100.679,15 65,0% 102.479,15 65,5% 158 648,60
2008 947.205,90 1.515,7% 1.036.064,90 160,1% 402 2.577,27
2010 2.904.125,00 198,8% 2.101.420,00 114,0% 491 4.279,88
2011 2.800.872,00 -3,56% 2.800.872,00 33,28% 431 6.498,54
2012 449.701,00 -83,94% 623.645,00 -77,73% 378 1.649,85
2013 179.458,90 -60,09% 434.236,48 -30,37% 418 1.038,84
  • Lãi suất OMO: Năm 2011 duy trì cố định ở mức 14%/năm nhằm kiểm soát mặt bằng lãi suất cho vay. Giai đoạn 2012–2014, lãi suất OMO được điều chỉnh giảm dần theo định hướng nới lỏng thận trọng và hạ mặt bằng lãi suất huy động của NHNN.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ Việt Nam thời gian tới

Chương 3 trình bày các định hướng và hệ thống giải pháp:

  • Định hướng phát triển: Xây dựng OMO thành công cụ chủ đạo điều tiết lượng tiền cơ sở trong ngắn hạn; tiến tới chuyển đổi hoàn toàn sang điều hành lãi suất mục tiêu thông qua cơ chế đấu thầu lãi suất linh hoạt trong dài hạn.
  • Hệ thống 10 nhóm giải pháp của tác giả:
    1. Hoàn thiện các quy định giao dịch OMO (ban hành Thông tư thay thế Quyết định 01/2007/QĐ-NHNN, bổ sung tiêu chí an toàn hoạt động của TCTD).
    2. Đa dạng hóa hàng hóa giao dịch (chấp nhận thương phiếu đủ tiêu chuẩn, trái phiếu doanh nghiệp chất lượng cao và chứng chỉ tiền gửi).
    3. Cải tiến, nâng cấp và hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin đấu thầu qua mạng.
    4. Nâng cao độ chính xác của mô hình dự báo vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng.
    5. Tăng tần suất giao dịch linh hoạt theo biến động luồng tiền trong ngày.
    6. Mở rộng mạng lưới thành viên tham gia thực chất (khuyến khích các NHTM cổ phần quy mô nhỏ).
    7. Phối hợp đồng bộ OMO với công cụ dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn và trần lãi suất.
    8. Nâng cao chất lượng chuyên môn của đội ngũ nhân sự thực thi.
    9. Tăng cường phối hợp giữa NHNN với Bộ Tài chính và các cơ quan quản lý Nhà nước trong phát hành nợ công.
    10. Phát triển thị trường tiền tệ thứ cấp nhằm tạo thanh khoản cho các công cụ nợ.
  • Kiến nghị: Đối với Quốc hội (hoàn thiện khung pháp lý về chứng khoán và công cụ nợ); đối với Chính phủ (quản lý ổn định thị trường vàng, xử lý nợ công); đối với các Bộ, Ngành (phối hợp cung cấp thông tin dự báo luồng ngân quỹ Kho bạc Nhà nước).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính rút ra từ số liệu văn bản

  1. Minh chứng về sự phát triển quy mô: Số lượng phiên giao dịch tăng từ 17 phiên (năm 2000) lên mức cao nhất 491 phiên (năm 2010) và duy trì 418 phiên (năm 2013). Tổng số phiên lũy kế từ 2000 đến 2013 đạt 3.503 phiên, trong đó giao dịch mua có kỳ hạn chiếm áp đảo với 2.534 phiên (72,34%).
  2. Vai trò cung ứng vốn khả dụng giai đoạn căng thẳng: Năm 2011, doanh số OMO đạt kỷ lục 2.800.872 tỷ đồng với 100% phiên giao dịch là mua có kỳ hạn, kịp thời giải tỏa căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng dưới áp lực lạm phát và nợ xấu.
  3. Chỉ ra các điểm nghẽn kỹ thuật: 80% hàng hóa OMO phụ thuộc vào tín phiếu Kho bạc; chỉ có 10–15 trên tổng số 75 TCTD thành viên thực sự tham gia đặt thầu thường xuyên; cơ chế đấu thầu lãi suất bị gián đoạn trong các năm 2010, 2011, 2013 và thay thế bằng đấu thầu khối lượng cố định lãi suất.

Giải pháp và kiến nghị đề xuất

Tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm: hoàn thiện tiêu chuẩn lựa chọn thành viên gắn với hệ số an toàn; mở rộng danh mục GTCG ra khỏi phạm vi công cụ nợ chính phủ; nâng cao năng lực mô hình dự báo vốn khả dụng; đồng thời kiến nghị các cơ quan quản lý giải quyết triệt để rủi ro từ thị trường vàng và nợ xấu ngân hàng qua VAMC.

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ chuỗi số liệu hoạt động OMO tại Việt Nam xuyên suốt 14 năm (2000–2013). Đóng góp quan trọng của công trình là đặt hoạt động OMO trong mối tương quan trực tiếp với các rủi ro vĩ mô đặc thù của Việt Nam giai đoạn 2011–2014 gồm: hiện tượng "vàng hóa" làm biến dạng hệ số nhân tiền, sự gia tăng của quy mô nợ công đè nặng lên chính sách tài khóa, và tình trạng đóng băng tín dụng do nợ xấu hệ thống NHTM.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi dữ liệu: Các phân tích thực trạng định lượng OMO dừng lại ở chuỗi số liệu đến hết năm 2013 và số liệu khái quát 4 tháng đầu năm 2014; chưa phản ánh được kết quả dài hạn của các đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng giai đoạn sau 2014.
  • Hạn chế về phương pháp tiếp cận: Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích định tính; chưa xây dựng mô hình kinh tế lượng định lượng hóa độ trễ tác động của lãi suất OMO tới lãi suất thị trường liên ngân hàng và cung tiền $M_2$.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Đánh giá hiệu quả cơ chế tái chiết khấu trái phiếu đặc biệt VAMC thông qua OMO; nghiên cứu cơ chế truyền dẫn OMO khi thị trường chuyển dịch từ đấu thầu khối lượng sang đấu thầu lãi suất thả nổi hoàn toàn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học tiền tệ làm tài liệu tham khảo về nghiệp vụ ngân hàng trung ương và công cụ điều hành chính sách tiền tệ.
    • Cán bộ phân tích thị trường tiền tệ tại các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng nghiên cứu cơ chế đấu thầu và quản trị thanh khoản qua kênh OMO.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Hệ thống công thức và nguyên lý phân bổ thầu khối lượng/lãi suất theo chuẩn kiểu Mỹ và kiểu Hà Lan tại Chương 1.
    • Bộ số liệu thống kê chi tiết về số lượng thành viên, cơ cấu phiên giao dịch và doanh số OMO của NHNN giai đoạn 2000–2013 tại Chương 2.
    • Phân tích thực chứng về tác động của thị trường vàng và nợ công tới hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu hàng hóa giao dịch OMO tại Việt Nam giai đoạn 2011–2013 có đặc điểm gì?

Theo số liệu khóa luận, mặc dù khung pháp lý đã mở rộng cho phép giao dịch các GTCG ngắn, trung và dài hạn, danh mục hàng hóa thực tế trên OMO vẫn rất nghèo nàn. Tín phiếu Kho bạc Nhà nước chiếm khoảng 80% tổng giá trị công cụ sử dụng; phần còn lại chủ yếu là tín phiếu NHNN. Các công cụ nợ khác như trái phiếu doanh nghiệp, thương phiếu hoặc chứng chỉ tiền gửi của các TCTD vẫn chưa phát sinh giao dịch thực tế.

2. Phương thức đấu thầu OMO nào được NHNN áp dụng chủ yếu trong giai đoạn 2010–2013?

Trong giai đoạn này, NHNN chủ yếu áp dụng phương thức đấu thầu khối lượng với mức lãi suất cố định được công bố trước (ví dụ mức 14%/năm trong năm 2011). Các năm 2010, 2011 và 2013 hoàn toàn không thực hiện đấu thầu lãi suất nhằm mục đích chủ động ấn định mặt bằng lãi suất mục tiêu để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD.

3. Tác động của thị trường vàng đến hệ số nhân tiền tệ tại Việt Nam được tác giả nêu ra như thế nào?

Khóa luận dẫn chứng rằng khi tính toán tổng phương tiện thanh toán không bao gồm vàng ($M_2$), hệ số nhân tiền của nền kinh tế đạt khoảng 4,8 lần. Tuy nhiên, nếu tính gộp cả khối lượng vàng trong lưu thông ($M_2 + \text{vàng}$), hệ số nhân tiền giảm mạnh xuống chỉ còn 2,0 lần, phản ánh tình trạng vàng hóa làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tạo tiền và hiệu lực điều hành CSTT của NHNN.

4. Quy mô thành viên được cấp phép và số lượng thành viên thực tế tham gia đấu thầu OMO năm 2013 có sự chênh lệch ra sao?

Tính đến hết năm 2013, tổng số thành viên được NHNN công nhận tham gia OMO là 76 thành viên (gồm NHNN và 75 TCTD thuộc nhiều loại hình). Tuy nhiên, trên thực tế mỗi phiên giao dịch OMO chỉ ghi nhận sự tham gia đặt thầu thường xuyên của khoảng 10–15 TCTD.

5. Khối lượng nợ xấu nội bảng và quy mô xử lý nợ qua VAMC được ghi nhận trong văn bản là bao nhiêu?

Theo báo cáo được trích dẫn trong khóa luận, tính đến cuối tháng 11/2013, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống ngân hàng là 4,55% (tăng 19,9% so với cuối năm 2012). Tổng số nợ xấu các TCTD đã cơ cấu lại là trên 300.000 tỷ đồng (chiếm hơn 10% tổng dư nợ). Công ty VAMC đã tiến hành mua 28.170 tỷ đồng nợ gốc từ 26 TCTD thanh toán thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Loan đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nghiệp vụ thị trường mở và phân tích sâu sắc thực trạng vận hành công cụ này của NHNN giai đoạn 2011–2014. Nghiên cứu chỉ ra vai trò then chốt của OMO trong điều tiết thanh khoản hệ thống ngân hàng, đồng thời làm rõ các rào cản kỹ thuật về hàng hóa, cơ chế đấu thầu trong bối cảnh chịu áp lực kép từ thị trường vàng, nợ công và nợ xấu. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cho công tác nghiên cứu chính sách tiền tệ tại Việt Nam.