Chương 1 Tổng quan pháp hoạch định quỹ đạo cho robot di động. Ngoài ra, mục tiêu nghiên cứu và giới hạn của đề tài cũng như nội dung chính của luận văn cũng được thể hiện trong chương này. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Có năm phần chính được đề cập trong chương 2. Phần thứ nhất trình bày các mô hình toán dùng trong điều khiển mobile robot.
Các phương pháp lập kế hoạch đường đi như: Phương pháp bản đồ đường đi (Road Map), Phương pháp chia ô (Cell Decomposition). Các phương pháp tránh vật cản như: Thuật toán Bug, phương páp trường thế năng, phương pháp trường lực ảo (VFF). Các giải thuật tìm kiếm như: Giải thuật A*, giải thuật D*. Thuật toán PSO được trình bày ở phần thứ năm.
Chương 3: Hoạch định chuyển động cho robot di động dùng thuật toán PSO Đây là phần trọng tâm của đề tài. Chương này tập trung nghiên cứu các phương pháp tìm đường đi và qui trình thực hiện việc hoạch định đường đi, hoạch định đường đi dùng thuật toán PSO (trình bày rõ về bài toán tìm đường dùng thuật toán tìm kiếm D* và bài toán di chuyển dùng thuật toán PSO). Chương 4: Kết quả mô phỏng Chương này giới thiệu về đặc điểm, chức năng của công cụ mô phỏng robot mã nguồn mở Player/Stage. Thuật toán hoạch định đường đi cho robot di động dùng PSO kết hợp với trường thế năng được kiểm nghiệm trên công cụ mô phỏng này và chương trình điều khiển robot được xây dựng trên ngôn ngữ C++.
Kết quả mô phỏng sẽ được phân tích để tìm ra ưu, nhược điểm của từng giải thuật và so sánh kết quả đã nghiên cứu được với kết quả của các đề tài nghiên cứu trước đó. Chương 5: Kết luận và hướng phát triển của đề tài Chương này sẽ nhận xét ưu, nhược điểm của các giải thuật cải tiến mà đề tài đã đưa ra so với các giải thuật đã được nghiên cứu trước đây và đề xuất hướng phát triển của đề tài. 6 Luan van Chương 2 Cơ sở lý thuyết Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Mô tả mô hình toán học của một số robot di động Trong thực tế, một robot muốn di chuyển được thì phải được điều khiển bằng các thuật toán.
Mô hình toán học là một phần hỗ trợ cho thuật toán điều khiển, tùy môi trường làm việc mà ta có những robot khác nhau [4], [6]. Trong mục này, xem xét ba mô hình tiêu biểu, được ứng dụng rộng rãi trong thực tế. Đó là robot 2 bánh, 3 bánh và robot 4 bánh. Robot 2 bánh Robot di động chuyển động bằng bánh xe [6] bao gồm một đế được hỗ trợ bởi những bánh xe lăn.
Những bánh xe này cho phép chuyển động tương đối giữa đế và mặt đất. Những robot chuyển động bánh xe có kết cấu đơn giản, dễ xây dựng và có tỷ lệ tải trọng thuận lợi. Hơn nữa chuyển động bằng bánh thì dễ điều khiển, vấn đề vững vàng được đặt ra ít hơn, sử dụng ít năng lượng và có thể di chuyển với tốc độ cao. Khả năng di chuyển và điều khiển của robot di động chuyển động bằng bánh xe phụ thuộc phần lớn vào những bánh xe gắn liền.
Sự lựa chọn thông dụng nhất cho những phương tiện bằng bánh xe là bánh xe dạng đĩa, kết cấu hình học của nó cho phép: dễ lắp vào đế, dễ điều khiển, cấu trúc vật lý mạnh mẽ và dễ hoạt động trong sự có mặt của chấn động, những chỗ nứt hay sự không đều của mặt đất. Với một đế gồm nhiều bánh xe cho phép phân phối tải trọng và lực kéo giữa những bánh xe rất tốt, như vậy robot loại này có một lợi thế để thực hiện nhiệm vụ mà những robot di động loại khác khó có thể thực hiện được. Tuy nhiên, mặc dù có tính đa năng do sự hoạt động tự nhiên của bánh xe, nhưng phải chấp nhận những ràng buộc để đưa ra yêu cầu cho mỗi bánh xe là: không trượt ngang và quay mà không trượt. 7 Luan van Chương 2 Cơ sở lý thuyết Dựa vào hình 2.1 ta xác định ngõ điều khiển và hình dạng robot như sau: v U (2.2) Trong đó: ( x, y ) là vị trí của robot là góc định hướng cho robot v là vận tốc thẳng, là vận tốc góc Quan hệ giữa ngõ vào điều khiển và vận tốc hai bánh xe ta được: Ở tại mọi thời điểm, bánh xe trái và phải của robot luôn quay theo quỹ đạo với cùng vận tốc gốc.
Cấu trúc robot 2 bánh L Khi đó, (R+ ) VR (2.4) 2 Trong đó: VR là vận tốc thẳng của bánh xe phải, VL là vận tốc thẳng của bánh xe trái, r là bán kính danh định của mỗi bánh xe, bán kính đường cong tức thời của quỹ đạo robot. 8 Luan van Chương 2 Cơ sở lý thuyết Lấy (2.4) xác định đựơc: VR VL v (2.6) L Mô hình toán của Kinematic và điều kiện ràng buộc nonholonomic trong hệ tọa độ toàn cục như sau: Hình 2. Cấu trúc robot với điều kiện ràng buộc nonholonomic trong hệ tọa độ toàn cục Biểu thức Kinematic: x cos 0 v y sin 0 .7) 0 1 Điều kiện rang buộc nonholonomic: x sin cos x sin y cos =0 (2. Robot 3 bánh Phương trình chuyển động với vận tốc v của robot (hình 2.3) thoả mãn phương trình động sau: 9 Luan van Chương 2 Cơ sở lý thuyết x(t ) cos (t ) 0 v(t ) y (t ) sin (t ) 0 .
Cấu trúc robot 3 bánh 2. Robot 4 bánh Hình 2. Cấu trúc của robot di động 4 bánh Phương trình chuyển động với vận tốc v của robot thoả mãn phương trình động sau: 10 Luan van Chương 2 Cơ sở lý thuyết x cos sin 0 v y sin cos 0 . Các phƣơng pháp lập kế hoạch đƣờng đi Bài toán lập kế hoạch đường đi [5], [7], [8] là xác định một quỹ đạo đường đi để cho robot di chuyển đến vị trí mục tiêu đã định mà không va chạm vật cản trong vùng làm việc.
Việc lập kế hoạch đường đi trước hết là phải đưa ra một bản đồ và vị trí mục tiêu, sau đó là một chiến lược để giải quyết bài toán robot phải quyết định làm gì để đạt được mục tiêu. Bước đầu tiên của hệ thống lập kế hoạch đường đi là biến đổi kiểu môi trường liên tục thành bản đồ rời rạc để thích ứng cho việc chọn giải thuật lập kế hoạch đường đi. Có các phương pháp chính như sau: 2. Phương pháp bản đồ đường đi (Road Map) Phương pháp Road Map kết nối các vùng không gian trống của robot trong một mạng lưới các đường thẳng hoặc đường cong 1D gọi là các bản đồ đường đi.
Có hai phương pháp Road Map được chấp nhận với những kiểu đường đi thay đổi đột ngột: đồ thị trực quan (Visibility graph) và biểu đồ Voronoi (Voronoi diagram). Trong phương pháp đồ thị trực quan, các đường đi sẽ bám sát theo vật cản và đường đi cuối cùng là kết quả có độ dài ngắn nhất. Còn trong phương pháp biểu đồ Voronoi thì các đoạn đường càng cách xa vật cản càng tốt. Visibility graph Phương pháp Visibility graph (hình 2.5) có hai nhược điểm.
Thứ nhất, nó cực kỳ nhanh và hiệu quả cho các môi trường thưa thớt vật cản, nhưng có thể chậm và không hiệu quả bằng các phương pháp khác đối với các môi trường có mật độ vật cản cao. Thứ hai là có nhiều thiếu sót tiềm ẩn: Kết quả đường đi tìm được bởi Visibility graph có thể làm cho robot bị chạm vào vật cản trên đường đi đến đích. 11 Luan van Chương 2 Cơ sở lý thuyết Giải pháp chung là tăng kích thước vật cản lên một khoảng bằng với bán kính của robot, hoặc là điều chỉnh kết quả đường đi sau khi đã có kế hoạch đường đi cách xa vật cản ra một khoảng cách cho phép. Dĩ nhiên, điều này sẽ hy sinh sự tối ưu về độ dài của phương pháp Visibility graph.
Phương pháp đồ thị trực quan (Visibility graph) Voronoi Phương pháp sơ đồ Voronoid (Voronoid diagram).6) là phương pháp vẽ đường đi hoàn chỉnh dựa trên khoảng cách tối đa giữa robot và vật cản trong bản đồ. Tất nhiên, đường tìm được trong Vonoroid thường xa hơn so với đường tối ưu về tổng độ dài. Voronoid diagram có một hạn chế là sự giới hạn về khoảng cách của cảm biến vị trí. Vì thuật toán tìm đường đi chọn khoảng cách tối đa giữa robot và vật cản trong môi trường nên các cảm biến có tầm hoạt động ngắn của robot sẽ sai khi cảm nhận về môi trường xung quanh.
Tuy nhiên, một lợi điểm quan trọng của phương pháp Voronoid diagram so với hầu hết các kỹ thuật tránh vật cản khác là khả năng thực thi. Cho một kế hoạch đường đi đã được lập bằng phương pháp Voronoid diagram, một robot với các cảm biến khoảng cách như laser hoặc siêu âm, có thể đi theo đường Voronoid trong môi trường thực bằng cách sử dụng thuật toán đơn giản của Voronoid diagram: Robot làm tăng tối đa các giá trị cực tiểu cục bộ mà cảm biến của nó đọc được. Hệ thống điều khiển này sẽ giữ cho robot đi đúng trên đường Voronoid, điều này sẽ giảm thiểu khả năng sai sót. 12 Luan van Chương 2 Cơ sở lý thuyết Hình 2.
Phương pháp chia ô (Cell decomposition) Ý tưởng của phương pháp chia ô là phân biệt rõ giữa khu vực hình học, hoặc các ô là những vùng trống và vùng bị chiếm giữ bởi vật cản. Có hai phương pháp chia ô là chia ô chính xác và chia ô gần đúng.7a mô tả phương pháp chia ô chính xác, trong đó đường biên của các ô được xác định dựa trên giới hạn hình học của vật cản. Các ô kết quả có thể là những ô hoàn toàn trống hoặc hoàn toàn bị chiếm giữ, vì vậy kế hoạch đường đi trong mạng được thực hiện giống như các phương pháp ở trên. Bất lợi chính của phương pháp chia ô chính xác là số lượng các ô, do sự tính toán khi lập kế hoạch đường đi phụ thuộc vào mật độ và độ phức tạp của vật cản trong môi trường.
Vì vậy, sự biểu diễn sẽ phụ thuộc vào độ lớn và độ thưa thớt của môi trường.