CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG XẾP LOẠI KHÁCH HÀNG 1. Tổng quan về chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng 1. Khái niệm về chấm điếm tín dụng xếp loại khách hàng Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chấm điểm tín dụng xếp hạng doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng thương mại. Theo công ty Moody’s - một trong những công ty đầu tiên và cũng là công ty hàng đầu về chấm điểm và xếp loại khách hàng, thì chấm điểm tín dụng xếp loại doanh nghiệp là sự đánh giá hiện thời về khả năng, tính sẵn sàng của người đi vay về việc hoàn trả tiền gốc và lãi của một khoản nợ nhất định; là kết quả tổng hợp các đánh giá rủi ro về kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp đi vay trong thời hạn thanh toán món nợ.
Theo Công ty Tài chính Công nghiệp tàu thuỷ định nghĩa trong tài liệu hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ thì “Hệ thống chấm điểm tín dụng xếp hạng khách hàng là một quy trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một khách hàng đối với một ngân hàng như việc trả lãi và trả gốc nợ vay khi đến hạn hoặc các điều kiện tín dụng khác nhằm đánh giá, xác định rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng đối tượng khách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng xếp hạng khách hàng”[5, tr1]. Về bản chất, chấm điểm tín dụng xếp loại doanh nghiệp vay vốn là kết quả việc đánh giá tổng hợp tất cả các rủi ro về thanh toán gốc, lãi của các khoản nợ hiện tại và tương lai của nhà phát hành. Việc chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng được thực hiện trong mối quan hệ mật thiết giữa quá khứ, hiện tại và trên cơ sở đó đưa ra các dự đoán về tương lai, đồng thời kết quả chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng vay vốn cũng chứa đựng ý kiến chủ quan của các cán bộ tiến hành chấm điểm và xếp loại.
Như vậy, chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng là một phương pháp lượng hoá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng như không trả được lãi và gốc nợ vay khi đến hạn hoặc vi phạm các điều kiện tín dụng khác thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng. Các chỉ tiêu và thang điểm được áp dụng khác nhau đối với các khách hàng khác nhau. Vai trò chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng 1. Đối với tổ chức tín dụng Hoạt động của TCTD trong nền kinh tế thị trường là hoạt động đi vay để cho vay - đây là một trong những hoạt động kinh tế chứa đựng nhiều rủi ro.
Rủi ro đó có thể là do nguyên nhân chủ quan nhưng cũng có thể bởi các nguyên nhân khách quan từ phía khách hàng gây ra. Dù là rủi ro do nguyên nhân nào thì hậu quả của nó cũng vô cùng to lớn đối với nền kinh tế do tính chất lây lan của nó (hiệu ứng Domino). Việc chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng được thực hiện nhằm hỗ trợ các TCTD trong việc: Ra quyết định tín dụng. Giám sát và đánh giá khách hàng khi khoản tín dụng đang còn dư nợ, lường trước những dấu hiệu của rủi ro.
Giảm chi phí và tiết kiệm thời gian ra quyết định cho vay. Xây dựng một chính sách khách hàng tốt hơn. Đối với doanh nghiệp Việc chấm điểm tín dụng xếp hạng khách hàng là doanh nghiệp giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín cũng như quảng bá được hình ảnh của mình trên thị trường trong nước cũng như nước ngoài, giúp cho doanh nghiệp có động lực để phấn đấu không ngừng để cải thiện hình ảnh và độ tín nhiệm của mình, giúp cho các doanh nghiệp có được cái nhìn rõ hơn về đối tác của mình trước khi ra các quyết định giao dịch mua bán cũng như hợp tác kinh doanh. Đối với Ngân hàng nhà nước Đối với NHNN việc chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng là doanh nghiệp có thể biết được mức độ rủi ro theo từng ngành kinh tế, từ đó xây dựng chính sách tiền tê, tín dụng thích hợp, nâng cao hiệu quả của việc khuyến khích đầu tư vào các ngành kinh tế trọng điểm chiến lược đã được xác định trước.
Phương pháp chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng Các phương pháp được sử dụng trong chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng hiện nay là phương pháp chấm điểm các nhóm chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của từng khách hàng, kết hợp với phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia kết hợp phương pháp thống kê để xếp loại khách hàng. Trong mỗi nhóm chỉ tiêu tài chính hoặc phi tài chính sẽ bao gồm các chỉ tiêu nhỏ. Số lượng chỉ tiêu nhỏ, thang điểm và trọng số của mỗi chỉ tiêu sẽ là khác nhau đối với mỗi khách hàng hay ngành nghề kinh tế khác nhau. Mục đích của việc chấm điểm tính dụng xếp loại khách hàng đối với hoạt động ngân hàng - Tạo cơ sở cho việc ra các quyết định liên quan đến hoạt động tín dụng của NHTM, cụ thể: + Từ chối hay đồng ý cấp tín dụng/bảo lãnh + Xác định giới hạn tín dụng/bảo lãnh của khách hàng + Thời hạn và mức lãi suất/phí cho vay + Yêu cầu về tài sản bảo đảm.
- Xây dựng công cụ quản lý rủi ro tín dụng, trong đó khách hàng được xếp hạng theo các mức độ tín nhiệm khác nhau, nhằm: + Đánh giá mức độ rủi ro hiện tại (đối với khách hàng đang còn dư nợ). + Dự đoán rủi ro tiềm tàng để đưa ra các biện pháp phòng ngừa (đối với khách hàng mới, khoản vay mới). + Đảm bảo tín dụng, thực hiện việc trích lập dự phòng đối với từng khách hàng, đáp ứng được các yêu cầu về phân loại xếp hạng khách hàng theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. - Hỗ trợ việc hoạch định chính sách tín dụng, chính sách khách hàng phù hợp với mức độ rủi ro tín dụng để nâng cao hiệu quả cũng như bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng của NHTM.
- Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin rủi ro về khách hàng, lĩnh vực cấp tín dụng nhằm hỗ trợ công tác cấp tín dụng và quản lý tín dụng của NHTM. Nguyên tắc xếp hạng tín dụng Khái niệm hiện đại về XHTD được tập trung vào các nguyên tắc chủ yếu bao gồm phân tích tín nhiệm trên cơ sở ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay và từng khoản vay; đánh giá rủi ro dài hạn dựa trên ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh và xu hướng khả năng trả nợ trong tương lai; đánh giá rủi ro toàn diện và thống nhất dựa vào hệ thống ký hiệu xếp hạng. Trong phân tích XHTD cần thiết sử dụng phân tích định tính để bổ sung cho những phân tích định lượng. Các dữ liệu định lượng là những quan sát được đo lường bằng số, các quan sát không thể đo lường bằng số được xếp vào dữ liệu định tính.
Các chỉ tiêu phân tích có thể thay đổi phù hợp với sự thay đổi của trình độ công nghệ và yêu cầu quản trị rủi ro. Mô hình xếp hạng tín dụng Mô hình đơn giản nhất được sử dụng trong XHTD là mô hình một biến số. Chỉ tiêu đánh giá phải được thống nhất trong mô hình. Tỷ suất tài chính được sử dụng trong mô hình một biến số bao gồm các chỉ tiêu thanh khoản, các chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu cân nợ, chỉ tiêu lợi tức, chỉ tiêu vay nợ và chi phí trả lãi.
Các chỉ tiêu phi tài chính thường được sử dụng bao gồm thời gian hoạt động của doanh nghiệp, số năm kinh nghiệm và trình độ của nhà quản trị cấp cao, triển vọng ngành. Nhược điểm của mô hình một biến số là kết quả dự báo khó chính xác nếu thực hiện phân tích và cho điểm các chỉ tiêu đánh giá một cách riêng biệt, hơn nữa, mỗi người có thể hiểu các chỉ tiêu đánh giá theo một cách khác nhau. Để khắc phục nhược điểm này, các nhà nghiên cứu đã phát triển những mô hình kết hợp nhiều biến số thành một giá trị để dự báo sự thất bại của doanh nghiệp như mô hình phân tích hồi quy, phân tích lôgích, phân tích xác xuất có điều kiện, phân tích phân biệt nhiều biến số. NHTM áp dụng các mô hình khác nhau tuỳ theo đối tượng xếp loại là cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng.
Trong giới hạn đề tài nghiên cứu này chỉ đề cập đến 2 nhóm khách hàng được xếp hạng là cá nhân và doanh nghiệp. Quy trình chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng Quy trình chấm điểm tín dụng xếp loại khách hàng là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách khoa học, khách quan nhằm đưa ra kết quả chính xác nhất. Quy trình và các nội dung của quy trình chấm điểm tín dụng của các NHTM khác nhau thì khác nhau nhưng thông thường bao gồm các bước cơ bản như sau : (1) Thu thập thông tin: Đây là bước đầu tiên và quan trọng nhất, nguồn thông tin thu thập được là cơ sở cho quá trình chấm điểm xếp loại khách hàng. Thông tin đầu vào này chính là các thông tin tài chính và phi phài chính về khách hàng.
Nguồn thu thập thông tin chủ yếu từ chính các khách hàng, từ tài liệu do khách hàng cung cấp, phỏng vấn trục tiếp khách hàng. Để có thể thu thập được nguồn thông tin và số liệu chính xác cao thì ngoài những thông tin do chính khách hàng cung cấp, cán bộ thẩm định có thể thu thập thông tin từ báo cáo nghiên cứu thị trường của các tổ chức chuyên nghiệp, từ trung tâm thông tin tín dụng CIC của NHNN, thông tin từ các cơ quan của Chính Phủ và các nguồn khác. (2) Phân tích bằng mô hình để kết luận về mức xếp hạng: Cán bộ thẩm định sử dụng đồng thời chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính để phân tích. Đặc biệt đối với những chỉ tiêu phi tài chính phải được sử dụng hết sức linh hoạt, khách quan, phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp, từng mặt hàng kinh doanh.
Mức xếp hạng cuối cùng được quyết định sau khi tham khảo ý kiến Hội đồng xếp hạng.