CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1. Khái quát về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Ngân hàng thương mại gắn liền với sự phát triển của quan hệ hàng hóa-tiền tệ. Trong quan hệ đó, ngân hàng phát triển qua các giai đoạn khác nhau, từ thấp đến cao; hình thức và hoạt động của ngân hàng ngày càng phong phú.
Tuy vậy, ngân hàng là thế nào, thì trong diễn đàn khoa học không có khái niệm giống nhau. Nhà kinh tế học, người Anh Peter S. Rose thì cho rằng, “ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất cứ một tổ chức kinh doanh nào” ( Peter Rose, 2008). Khái niệm của Peter Rose chỉ tiếp cận hoạt động của ngân hàng như là một loại hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính trong nền kinh tế; không đề cập đến mục tiêu cung hoạt động; cũng như không chi tiết hoạt động của từng loại hình ngân hàng.Trên phương diện luật pháp, mỗi quốc gia cũng đưa ra khái niệm không giống nhau.
Có quốc gia tiếp cận khái niệm ngân hàng một cách chung nhất trên phương diện hoạt động; nhưng cũng có nước thì tiếp cận chi tiết hơn. Ví dụ, theo luật Mỹ, thì bất cứ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là ngân hàng. Điều 1 Luật ngân hàng của Pháp (1941) định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính". 4 Luật pháp Việt Nam khái niệm về ngân hàng chi tiết hơn, cụ thể hơn so với nhiều nước trên thế giới.
Theo đó: - Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật; trong đó TCTD là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng, bao gồm việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. - Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tổ chức quản lý và mạng lưới của ngân hàng thương mại Cơ cấu tổ chức mạng lưới Khái niệm về mạng lưới. Mạng lưới là hệ thống các bộ phận, các kênh cung cấp sản phẩm, các bộ phận hỗ trợ hoạt động với các chức năng nhiệm vụ được xác định sẳn, kết hợp thành hệ thống thống nhất dưới sự điều hành chung của một chủ thể.
Quy mô mạng lưới của ngân hàng thùy thuộc vào loại hình ngân hàng, mục tiêu, khả năng tài chính của từng ngân hàng. Việc mở chi nhánh, phòng giao dịch… phải tuân theo quy định của Nhà nước. Tổ chức mạng lưới của ngân hàng có hai cấp: i)Trụ sở chính. Ngân hàng không thể không có trụ sở chính.
Cơ cấu tổ chức tại trụ sở chính do ngân hàng chọn mô hình thùy thuộc vào khả năng, mục tiêu kinh doanh của ngân hàng, cũng như yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước.ii) Mạng lưới hoạt động. Mạng lưới được tổ chức theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam Mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại bao gồm: chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp ở trong nước; chi nhánh, văn phòng đại diện, ngân hàng 100% vốn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật. 5 Ngoài mạng lưới hoạt động nói trên, ngân hàng được thành lập công ty trực thuộc để hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, quản lý, khai thác, bán tài sản trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và tài sản mà Nhà nước giao cho ngân hàng xử lý thu hồi nợ.
Chức năng nhiệm vụ của mạng lưới. - Chi nhánh trong nước, chi nhánh ngoài nước: là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, hạch toán phụ thuộc, có con dấu, có nhiệm vụ thực hiện một hoặc một số chức năng của ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật. - Phòng giao dịch: Phòng giao dịch là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, được quản lý bởi một chi nhánh ở trong nước của ngân hàng thương mại, hạch toán báo sổ, có con dấu, có địa điểm đặt trụ sở trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở chi nhánh quản lý. Phòng giao dịch không được quyết định cấp tín dụng cho một khách hàng vượt quá hai (02) tỷ đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ quy đổi tương đương, trừ trường hợp khoản cấp tín dụng được đảm bảo toàn bộ bằng tiền, thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá do chính ngân hàng thương mại phát hành, trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc nhà nước; không được cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế.
- Văn phòng đại diện trong nước, ngoài nước: Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, có con dấu, thực hiện chức năng đại diện theo ủy quyền của ngân hàng thương mại. Văn phòng đại diện không được thực hiện hoạt động kinh doanh. - Đơn vị sự nghiệp ở trong nước: Đơn vị sự nghiệp là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, có con dấu, thực hiện một hoặc một số hoạt động hỗ trợ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, bao gồm:nghiên cứu, ứng dụng công nghệ ngân hàng cho ngân hàng thương mại;đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ thuật cho cán bộ, nhân viên của ngân hàng thương mại;văn phòng liên lạc; nghiên cứu, tìm hiểu thị trường;lưu trữ cơ sở dữ liệu, thu thập, xử lý thông tin phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại; các hoạt động khác hỗ trợ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại phù hợp với quy định của pháp luật. 6 - Sở giao dịch, quỹ tiết kiệm, điểm giao dịch.
(Là những đơn vị đã được thành lập theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước trước ngày 23 tháng 10 năm 2013) - Ngân hàng 100% vốn ở nước ngoài là một loại hình công ty con do ngân hàng thương mại Việt Nam sở hữu 100% vốn điều lệ, có tư cách pháp nhân, được thành lập tại nước ngoài theo quy định luật pháp nước ngoài. Thành lập và mở rộng mạng lưới là bước đi nhằm duy trì và phát triển ngân hàng. Về nguyên tắc thị trường, thì một ngân hàng thành lập bao nhiêu chi nhánh, mở ra mạng lưới kên phân phối như thế nào là phụ thuộc và chiến lược phát triển, khả năng tài chính và quản lý của ngân hàng; cũng như nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên, nhiều quốc gia đưa việc thành lập và mở rộng mạng lưới vào đối tượng quản lý của Nhà nước.
Ở Việt Nam, mỗi một ngân hàng thương mại chỉ hình thành và mở rộng mạng lưới trong khuôn khổ quy định của Nhà nước. Cụ thể: Cơ cấu tổ chức quản lý và nguyên tắc quản lý của ngân hàng. Cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng. Cơ cấu tổ chức quản lý ngân hàng phụ thuộc vào loại hình của ngân hàng.
- Nếu ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì cơ cấu tổ chức quản lý gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc. - Nếu là ngân hàng thương mại Nhà nước do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, ngân hàng thương mại liên doanh, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài, thì cơ cấu tổ chức quản lý ngân hàng gồm: Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc. Các nguyên tắc quản lý - Hội đồng quản trị và cơ cấu Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị ngân hàng, có toàn quyền nhân danh ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông hoặc chủ sở hữu, 7 hoặc thành viên góp vốn.Hội đồng quản trị của ngân hàng bảo đảm có không dưới 2 thành viên là độc lập, số thành viên này cũng không được tham gia điều hành, thành viên độc lập có thể làm chủ tịch Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị có nhiệm vụ phê duyệt chiến lược hoạt động và các nguyên tắc cơ bản thuộc về chính sách hoạt động của ngân hàng và thường xuyên rà soát các nguyên tắc đó; tìm hiểu về những rủi ro quan trọng nhất và ngân hàng gặp phải, xác định các hạn mức phù hợp cho các rủi ro này và phải chú ý xem liệu Ban Giám đốc ngân hàng có sử dụng những biện pháp cần thiết nhằm nhận biết, đánh giá, giám sát và hạn chế các rủi ro này hay không; quyết định cơ cấu tổ chức và đảm bảo chắc chắn rằng Ban Giám đốc luôn giám sát tính hiệu quả của công tác kiểm tra nội bộ.
Hội đồng quản trị là cấp quản lý cao nhất chịu trách nhiệm về việc xây dựng và tiếp tục điều hành một cơ chế kiểm tra nội bộ hiệu quả và phù hợp. - Ban Kiểm soát của ngân hàng do Đại hội đồng cổ đông, hoặc chủ sở hữu thành lập, có chức năm giám sát hoạt động ngân hàng nhằm đánh giá chính xác hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của ngân hàng. - Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc. Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm một trong số các thành viên của mình làm Tổng giám đốc hoặc thuê người ngoài làm Tổng giám đốc.Tổng giám đốc, là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của ngân hàng.
Giúp việc Tổng giám đốc có các phó Tổng giám đốc.