Giáo trình luật tố tụng hình sự việt nam trường đại học luật hà nội hoàng thị minh sơn chủ biên trần văn độ phần 2

Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam phần 2, chủ biên Hoàng Thị Minh Sơn và Trần Văn Độ, cung cấp kiến thức chuyên sâu về tố tụng hình sự, phù hợp cho sinh viên và nghiên cứ...

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình
300
7
9

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Quy trình lấy lời khai trong Luật Tố Tụng Hình Sự

Giáo trình Luật Tố Tụng Hình Sự phần 2 của Đại Học Luật Hà Nội do Hoàng Thị Minh SơnTrần Văn Độ biên soạn, trình bày chi tiết quy trình lấy lời khai trong tố tụng hình sự. Điều tra viên phải yêu cầu người làm chứng xuất trình giấy triệu tập và chứng minh thư nhân dân để xác định danh tính. Sau đó, họ giải thích quyền và nghĩa vụ của người làm chứng, ghi chép vào biên bản. Việc hỏi cung phải ngắn gọn, cụ thể, tránh câu hỏi gợi ý. Mỗi lần lấy lời khai, điều tra viên phải lập biên bản theo quy định. Quy trình này đảm bảo tính minh bạch và khách quan trong thu thập chứng cứ.

1.1. Xác minh nhân thân và mối quan hệ

Trước khi lấy lời khai, điều tra viên phải xác minh mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, người bị hại và các tình tiết nhân thân. Điều này giúp đánh giá độ tin cậy của lời khai. Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác minh này để tránh sai sót trong quá trình điều tra.

1.2. Ghi chép và lập biên bản

Mọi lời khai phải được ghi chép đầy đủ vào biên bản, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố Tụng Hình Sự. Biên bản phải phản ánh chính xác nội dung lời khai và được ký xác nhận bởi các bên liên quan. Đây là bước quan trọng để đảm bảo tính pháp lý của chứng cứ.

II. Đối chất trong tố tụng hình sự

Phần 2 Luật Tố Tụng Hình Sự đề cập đến hoạt động đối chất, áp dụng khi có mâu thuẫn trong lời khai giữa các bên. Điều tra viên phải nghiên cứu hồ sơ, xác định vấn đề cần đối chất và lập kế hoạch chi tiết. Quá trình đối chất giúp làm sáng tỏ sự thật, đảm bảo tính khách quan trong điều tra. Giáo trình đại học luật nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi tiến hành đối chất.

2.1. Chuẩn bị đối chất

Điều tra viên phải nghiên cứu hồ sơ, đặc biệt là các lời khai mâu thuẫn, và xác định vấn đề cần đối chất. Tài liệu luật tố tụng chỉ rõ việc lập kế hoạch đối chất là bước không thể thiếu để đảm bảo hiệu quả của quá trình này.

2.2. Tiến hành đối chất

Trong quá trình đối chất, điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ giữa các bên và các tình tiết cần làm sáng tỏ. Luật hình sự Việt Nam quy định rõ việc ghi chép biên bản đối chất, đảm bảo tính minh bạch và pháp lý.

III. Nhận dạng trong điều tra hình sự

Nhận dạng là hoạt động điều tra quan trọng, giúp xác định người, vật hoặc ảnh liên quan đến vụ án. Giáo trình Luật Tố Tụng Hình Sự hướng dẫn chi tiết quy trình nhận dạng, từ việc lấy lời khai đến chuẩn bị đối tượng nhận dạng. Điều tra viên phải đảm bảo tính khách quan bằng cách chọn đối tượng tương tự để nhận dạng. Quy trình này đòi hỏi sự cẩn trọng và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật.

3.1. Chuẩn bị nhận dạng

Điều tra viên phải lấy lời khai của người nhận dạng, làm rõ các tình tiết và đặc điểm liên quan. Học luật tố tụng hình sự nhấn mạnh việc chọn đối tượng tương tự để đảm bảo tính khách quan trong quá trình nhận dạng.

3.2. Tiến hành nhận dạng

Khi nhận dạng, điều tra viên phải tạo điều kiện cho người nhận dạng quan sát và suy nghĩ kỹ lưỡng. Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam quy định rõ việc ghi chép biên bản nhận dạng, đảm bảo tính pháp lý của kết quả nhận dạng.

IV. Khám xét và thu giữ trong tố tụng hình sự

Khám xét và thu giữ là biện pháp cưỡng chế quan trọng trong Luật Tố Tụng Hình Sự. Giáo trình Luật Tố Tụng Hình Sự phần 2 trình bày chi tiết các căn cứ và thẩm quyền khám xét, đảm bảo quyền tự do và dân chủ của công dân. Việc khám xét chỉ được tiến hành khi có đủ căn cứ pháp lý, và phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật Tố Tụng Hình Sự.

4.1. Căn cứ khám xét

Khám xét chỉ được tiến hành khi có căn cứ nhận định về sự hiện diện của công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tài liệu liên quan đến vụ án. Tài liệu luật tố tụng nhấn mạnh việc kiểm tra kỹ lưỡng các căn cứ trước khi ra lệnh khám xét.

4.2. Thẩm quyền khám xét

Theo Bộ luật Tố Tụng Hình Sự, chỉ những người có thẩm quyền mới được ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động này.

21/02/2025
Giáo trình luật tố tụng hình sự việt nam trường đại học luật hà nội hoàng thị minh sơn chủ biên trần văn độ phần 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu ghi rõ thời gian, địa điểm tiến hành giám định; họ tên, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn của người giám định; những người tham gia khi tiến hành giám định; những dấu vết, đồ vật, tài liệu được cơ quan trưng cầu cung cấp. Phần nội dung ghi rõ những dấu vết, đồ vật, tài liệu và tất cả những gi đã được giám định; những phương pháp được áp dung để giải quyết các vấn đề đã được đặt ra có căn cứ cụ thể. Phần cuối cùng shi rõ kết luận về vấn đề được yêu cầu giám định. Để làm sáng tỏ hoặc bổ sung nội dung kết luận giám định, cơ quan điều tra có thể hỏi thêm người giám định về những tình tiết cần thiết.

Nếu thấy nội dung kết luận giám định chưa 16, chưa đầy đủ hoặc khi phát hiện những vấn đề mới liên quan đến những tình tiết của vụ án đã được kết luận trước đó thì quyết 315 định giám định bổ sung; nếu có nghi ngờ về kết quả giám định hoặc có mâu thuẫn trong các kết luận giám định về cùng một vấn đề cần giám định thì quyết định giám định lại bằng người giám định hoặc hội đồng giám định khác. Việc giám định bổ sung hoặc giám định lại được tiến hành theo thủ tục chung. Sau khi đã tiến hành giám định, nếu bị can, những người tham gia tố tụng khác yêu cầu thì cơ quan đã trưng cầu giám định phải thông báo nội dung kết luận giám định cho họ biết, họ được trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại. Những điều này được ghi lại vào biên bản.

Trong trường hợp cơ quan điều tra, viện kiểm sát không chấp nhận yêu cầu của bị can, những người tham gia tố tụng khác thì phải nêu rõ lí do và thông báo cho họ biết. TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VÀ KẾT THÚC ĐIỀU TRA 1. Tạm đình chỉ điều tra Tạm đình chỉ điều tra là tạm ngừng việc tiến hành điều tra đối với vụ án hoặc đối với từng bị can trong một thời gian nhất định. Trong quá trình điều tra, cũng như khi đã hết thời hạn điều tra, nếu có những căn cứ do pháp luật quy định về tạm đình chỉ điều tra thì cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra.

Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định những căn cứ tạm đình chỉ điều tra bao gồm: - Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của hội đồng giám định pháp y. Trường hợp này cơ quan điều tra phải căn cứ vào ý kiến của hội đồng giám định pháp y về năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị can hoặc tình trạng bệnh hiểm nghèo khác của bị can có ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động điều tra hay không để quyết định tạm đình chỉ điều tra hay vẫn tiếp tục điều tra. Nếu bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có ảnh hưởng đến hoạt 316 động điều tra thì cơ quan điều tra phải tạm đình chỉ điều tra cho đến khi sức khoẻ của bị can được phục hồi. Việc tạm đình chỉ điều tra được thực hiện trước khi hết hạn điều tra.

- Khi hết thời hạn điều tra nhưng chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu. Day là trường hop cơ quan điều tra đã xin gia hạn và sử dụng hết thời hạn điều tra mà vẫn không xác định được ai là bị can thì phải quyết định tạm đình chỉ điều tra. Còn trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu thì cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã bị can. Trong quyết định ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm ra quyết định truy nã; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, tuổi, nơi cư trú của bị can; đặc điểm để nhận dạng bị can, dán ảnh kèm theo (nếu có) và tội phạm mà bị can đã bị khởi tố.

Quyết định truy nã được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phát hiện, bắt giữ người bị truy nã. Trong vụ án có nhiều bị can mà lí do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can. Trong trường hợp đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết quả giám định mà hết thời hạn điều tra thì cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, tạm ngừng các hoạt động điều tra còn việc giám định vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả. Khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, cơ quan điều tra phải gửi quyết định này cho viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bị hại, trừ trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu.

Kết thúc điều tra Việc điều tra kết thúc khi cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra. Đề nghị truy tố 317 Khi có day đủ chứng cứ để xác định có tội phạm va bị can thì cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Bản kết luận điều tra là văn bản tố tụng tổng kết việc điều tra và đề xuất giải quyết vụ án của cơ quan điều tra. Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ, chữ kí của người ra kết luận và trình bày diễn biến của hành vi phạm tội, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lí do và căn cứ đề nghị truy tố.

Để viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát điều tra đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho toà án giải quyết đúng đắn các vấn đề dân sự, hành chính phát sinh trong quá trình tố tụng, giải quyết việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo, kèm theo bản kết luận điều tra, cơ quan điều tra phải có bản kê về thời hạn điều tra, biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng, ghi rõ thời gian tạm giữ, tạm giam, vật chứng đã thu giữ, biện pháp để bảo đảm việc phạt tiền, bồi thường và tịch thu tài sản. Trong thời hạn hai ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, cơ quan điều tra gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố cùng hồ sơ vụ án đến viện kiểm sát cùng cấp, gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố cho bị can và người bào chữa. Đình chỉ điều tra Đình chỉ điều tra là chấm dứt việc điều tra vụ án hoặc với từng bị can. Trong những trường hợp sau đây cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra: - Người bị hại đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu; - Có căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; - Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội; - Người được miễn trách nhiệm hình sự; 318 - Người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục; - Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

Bản kết luận điều tra ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ và chữ kí của người ra kết luận và nêu rõ diễn biến của quá trình điều tra; phân tích việc đình chỉ điều tra dựa vào lí do và căn cứ nào. Vi du: Khi đình chỉ điều tra đối với bị can là người chưa thành niên phải nêu rõ tuổi của bị can; hành vi phạm tội là tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng (nêu rõ tội danh - điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng); phân tích tính chất của tội phạm gây hại không lớn; chỉ ra các tình tiết giảm nhẹ mà bị can được hưởng và cơ quan, tổ chức nào hoặc gia đình bị can nhận giám sát, giáo dục bị can. Nêu rõ căn cứ khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999 thì người chưa thành niên có thể được miễn trách nhiệm hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 bị can được đình chỉ điều tra. Cùng với bản kết luận điều tra, cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lí do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, trả lại đồ vật đã tạm giữ (nếu có) và những vấn đề khác có liên quan.

Trong thời hạn hai ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra cơ quan điều tra phải gửi kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát cùng cấp; gửi bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra cho bị can, người bào chữa. Nếu trong một vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can thì có thể đình chỉ điều tra với từng bị can. Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được quyết 319 định đình chỉ điều tra của cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì viện kiểm sát trả lại hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ diéu tra không có căn cứ thì viện kiểm sát hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố bị can. Phục hồi điều tra Phục hồi điều tra là việc điều tra tiếp tục vụ án hoặc bị can đã bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra.

Cơ quan điều tra quyết định phục hồi điều tra khi có đủ các điều kiện sau: - Đã có quyết định đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra. - Có lí do để hủy bỏ quyết định đình chỉ hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm do bị can thực hiện đã được đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo trình "Giáo Trình Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam Phần 2" của Đại Học Luật Hà Nội, do Hoàng Thị Minh Sơn và Trần Văn Độ biên soạn, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình tố tụng hình sự tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ giúp sinh viên và những người nghiên cứu pháp luật hiểu rõ hơn về các quy định và thủ tục pháp lý, mà còn trang bị cho họ những kiến thức cần thiết để áp dụng trong thực tiễn. Nội dung của giáo trình được trình bày một cách hệ thống, dễ hiểu, giúp người đọc nắm bắt nhanh chóng các khái niệm và quy trình quan trọng trong lĩnh vực tố tụng hình sự.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực pháp luật, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam phần 1, nơi cung cấp nền tảng vững chắc cho phần 2. Ngoài ra, tài liệu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường xây dựng nội dung giảng dạy pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh pháp lý liên quan đến thương mại quốc tế. Cuối cùng, tài liệu Kỷ yếu hội thảo khoa học đổi mới hoạt động đào tạo sau đại học sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển và cải cách trong giáo dục pháp luật tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá để bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết trong lĩnh vực pháp luật.