Phần mở đầu ghi rõ thời gian, địa điểm tiến hành giám định; họ tên, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn của người giám định; những người tham gia khi tiến hành giám định; những dấu vết, đồ vật, tài liệu được cơ quan trưng cầu cung cấp. Phần nội dung ghi rõ những dấu vết, đồ vật, tài liệu và tất cả những gi đã được giám định; những phương pháp được áp dung để giải quyết các vấn đề đã được đặt ra có căn cứ cụ thể. Phần cuối cùng shi rõ kết luận về vấn đề được yêu cầu giám định. Để làm sáng tỏ hoặc bổ sung nội dung kết luận giám định, cơ quan điều tra có thể hỏi thêm người giám định về những tình tiết cần thiết.
Nếu thấy nội dung kết luận giám định chưa 16, chưa đầy đủ hoặc khi phát hiện những vấn đề mới liên quan đến những tình tiết của vụ án đã được kết luận trước đó thì quyết 315 định giám định bổ sung; nếu có nghi ngờ về kết quả giám định hoặc có mâu thuẫn trong các kết luận giám định về cùng một vấn đề cần giám định thì quyết định giám định lại bằng người giám định hoặc hội đồng giám định khác. Việc giám định bổ sung hoặc giám định lại được tiến hành theo thủ tục chung. Sau khi đã tiến hành giám định, nếu bị can, những người tham gia tố tụng khác yêu cầu thì cơ quan đã trưng cầu giám định phải thông báo nội dung kết luận giám định cho họ biết, họ được trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại. Những điều này được ghi lại vào biên bản.
Trong trường hợp cơ quan điều tra, viện kiểm sát không chấp nhận yêu cầu của bị can, những người tham gia tố tụng khác thì phải nêu rõ lí do và thông báo cho họ biết. TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VÀ KẾT THÚC ĐIỀU TRA 1. Tạm đình chỉ điều tra Tạm đình chỉ điều tra là tạm ngừng việc tiến hành điều tra đối với vụ án hoặc đối với từng bị can trong một thời gian nhất định. Trong quá trình điều tra, cũng như khi đã hết thời hạn điều tra, nếu có những căn cứ do pháp luật quy định về tạm đình chỉ điều tra thì cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra.
Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định những căn cứ tạm đình chỉ điều tra bao gồm: - Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của hội đồng giám định pháp y. Trường hợp này cơ quan điều tra phải căn cứ vào ý kiến của hội đồng giám định pháp y về năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị can hoặc tình trạng bệnh hiểm nghèo khác của bị can có ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động điều tra hay không để quyết định tạm đình chỉ điều tra hay vẫn tiếp tục điều tra. Nếu bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có ảnh hưởng đến hoạt 316 động điều tra thì cơ quan điều tra phải tạm đình chỉ điều tra cho đến khi sức khoẻ của bị can được phục hồi. Việc tạm đình chỉ điều tra được thực hiện trước khi hết hạn điều tra.
- Khi hết thời hạn điều tra nhưng chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu. Day là trường hop cơ quan điều tra đã xin gia hạn và sử dụng hết thời hạn điều tra mà vẫn không xác định được ai là bị can thì phải quyết định tạm đình chỉ điều tra. Còn trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu thì cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã bị can. Trong quyết định ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm ra quyết định truy nã; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, tuổi, nơi cư trú của bị can; đặc điểm để nhận dạng bị can, dán ảnh kèm theo (nếu có) và tội phạm mà bị can đã bị khởi tố.
Quyết định truy nã được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phát hiện, bắt giữ người bị truy nã. Trong vụ án có nhiều bị can mà lí do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can. Trong trường hợp đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết quả giám định mà hết thời hạn điều tra thì cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, tạm ngừng các hoạt động điều tra còn việc giám định vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả. Khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, cơ quan điều tra phải gửi quyết định này cho viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bị hại, trừ trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu.
Kết thúc điều tra Việc điều tra kết thúc khi cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra. Đề nghị truy tố 317 Khi có day đủ chứng cứ để xác định có tội phạm va bị can thì cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Bản kết luận điều tra là văn bản tố tụng tổng kết việc điều tra và đề xuất giải quyết vụ án của cơ quan điều tra. Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ, chữ kí của người ra kết luận và trình bày diễn biến của hành vi phạm tội, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lí do và căn cứ đề nghị truy tố.
Để viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát điều tra đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho toà án giải quyết đúng đắn các vấn đề dân sự, hành chính phát sinh trong quá trình tố tụng, giải quyết việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo, kèm theo bản kết luận điều tra, cơ quan điều tra phải có bản kê về thời hạn điều tra, biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng, ghi rõ thời gian tạm giữ, tạm giam, vật chứng đã thu giữ, biện pháp để bảo đảm việc phạt tiền, bồi thường và tịch thu tài sản. Trong thời hạn hai ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, cơ quan điều tra gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố cùng hồ sơ vụ án đến viện kiểm sát cùng cấp, gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố cho bị can và người bào chữa. Đình chỉ điều tra Đình chỉ điều tra là chấm dứt việc điều tra vụ án hoặc với từng bị can. Trong những trường hợp sau đây cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra: - Người bị hại đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu; - Có căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; - Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội; - Người được miễn trách nhiệm hình sự; 318 - Người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục; - Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
Bản kết luận điều tra ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ và chữ kí của người ra kết luận và nêu rõ diễn biến của quá trình điều tra; phân tích việc đình chỉ điều tra dựa vào lí do và căn cứ nào. Vi du: Khi đình chỉ điều tra đối với bị can là người chưa thành niên phải nêu rõ tuổi của bị can; hành vi phạm tội là tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng (nêu rõ tội danh - điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng); phân tích tính chất của tội phạm gây hại không lớn; chỉ ra các tình tiết giảm nhẹ mà bị can được hưởng và cơ quan, tổ chức nào hoặc gia đình bị can nhận giám sát, giáo dục bị can. Nêu rõ căn cứ khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999 thì người chưa thành niên có thể được miễn trách nhiệm hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 bị can được đình chỉ điều tra. Cùng với bản kết luận điều tra, cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lí do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, trả lại đồ vật đã tạm giữ (nếu có) và những vấn đề khác có liên quan.
Trong thời hạn hai ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra cơ quan điều tra phải gửi kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát cùng cấp; gửi bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra cho bị can, người bào chữa. Nếu trong một vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can thì có thể đình chỉ điều tra với từng bị can. Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được quyết 319 định đình chỉ điều tra của cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì viện kiểm sát trả lại hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ diéu tra không có căn cứ thì viện kiểm sát hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố bị can. Phục hồi điều tra Phục hồi điều tra là việc điều tra tiếp tục vụ án hoặc bị can đã bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra.
Cơ quan điều tra quyết định phục hồi điều tra khi có đủ các điều kiện sau: - Đã có quyết định đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra. - Có lí do để hủy bỏ quyết định đình chỉ hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm do bị can thực hiện đã được đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra.