CHƯƠNG I KHÁI NIỆM LUẬT TỔ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM I. LUẬT TO TUNG HÌNH SỰ- MỘT NGÀNH LUẬT TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm luật tố tụng hình sự Luật tố tụng hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Đấu tranh phòng và chống tội phạm là vấn dé quan trọng trong xã hội.
Để giải quyết vấn đề này một cách kiên quyết, kịp thời, có hiệu quả, Quốc hội đã thông qua nhiều văn bản pháp luật quan trọng, trong đó Bộ luật hình sự quy định hành vi nào là nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt. Khi có hành vi phạm tội xảy ra, việc phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong đấu tranh chống tội phạm. Về vấn dé này V. Lénin đã chỉ rõ: "Tác dung ngăn ngừa của hình phạt.
hoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng mà ở chỗ đã phạm tội thì không thoát khỏi bị trừng phạt. Điều quan trọng không phải ở chỗ đã phạm tội thi phải trừng phạt nặng mà là ở chỗ không tội phạm nào không bị phát hiện". Để đảm bảo cho việc phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tội được chính xác, xử lí nghiêm minh, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình su. Khi tiếp nhận được thông tin về tội phạm hoặc phát hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác minh và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu xác định có dấu hiệu của tội phạm.
Sau đó tiến hành các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ để chứng minh tội phạm và người phạm tội, ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, hoàn thành hồ sơ vụ án và chuyển sang viện kiểm sát, nếu có đủ chứng cứ để xác định có hành vi phạm tội xảy ra và ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội đó. Nếu xét thấy việc khởi tố vụ án không có căn cứ hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm. thì cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra. Nếu bị can bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của hội đồng giám định pháp y® hoặc không xác định được bị can hay không biết bị can đang ở đâu thì cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra.
Khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, tuỳ từng trường hợp viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định như trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án hay truy tố bị can tr- ước toà án bằng bản cáo trạng. Toà án nghiên cứu hồ sơ và ra quyết định cần thiết để giải quyết vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử (1). Lénin toàn tập, Tập 4, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr.Xem: Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Nếu bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết hạn điều tra. và quyết định bị cáo có tội hay không có tội bằng một bản án. Quá trình từ khi khởi tố vụ án hình sự đến khi xét xử là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, trong đó xét xử là hoạt động mang tính chất quyết định. Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: "Không ai bị coi là có tội và phải chiu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật".
Vậy xét xử là một hình thức hoạt động nhà nước đặc biệt do toà án thực hiện, nhằm xem xét và giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật. Để việc xét xử được tiến hành đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, vụ án hình sự phải được khởi tố, điều tra, truy tố trước khi xét xử. Sau khi xét xử, toà án ra bản án tuyên bố bị cáo có tội hoặc không có tội và các quyết định khác. Bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực phải được thi hành và được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng.
Cá nhân và tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình, phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án và quyết định của toà án. Như vậy, tố tụng hình sự không chỉ bao gồm việc xem xét và giải quyết vụ án mà còn bao gồm cả những hoạt động trước khi xét xử (như khởi tố, điều tra, truy tố) và những hoạt động sau khi xét xử (như thi hành án). Mặt khác, để đạt được yêu cầu của việc phát hiện tội phạm và người phạm tội, luật tố tụng hình sự còn quy định sự tham gia của những người có liên quan đến vụ án, của cá nhân, cơ quan và tổ chức khác. Tố tụng hình sự là trình tự (quá trình) tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự).
Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án); người tiến hành tố tụng (thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên; viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát, kiểm sát viên; chánh án, phó chánh án toà án, thẩm phán, hội thẩm và thư kí 9 toà án); người tham gia tố tụng (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bào chữa; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người bảo vệ quyền lợi của đương sự; người làm chứng; người giám định và người phiên dịch), của cá nhân, cơ quan và tổ chức khác góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật tố tụng hình sự. Như đã phân tích ở trên, quá trình giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn thể hiện một hướng nhất định của hoạt động tố tụng. Giai đoạn tố tụng hình sự là những bước trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng mang đặc thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng.
Luật tố tụng hình sự Việt Nam chia quá trình tố tụng thành các giai đoạn sau:?) - Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự, trong đó, cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. - Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó, cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật, tiến hành thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. - Truy tố là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó, viện kiểm sát tiến hành các hoạt động cần thiết để truy tố bị (1). Trong thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về sự phân chia các giai đoạn tố tụng hình sự.
Ví du: Có quan điểm cho rằng khởi tố và điều tra là một giai đoạn. Lê Cảm thì có năm giai đoạn, đó là giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án (Tạp chí kiểm sát số 2/2004, tr. Trong giáo trình này, căn cứ vào tinh thần của các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, tố tụng hình sự được chia làm 7 giai đoạn. 10 can trước toà án bằng bản cáo trạng hoặc ra những quyết định tố tụng khác nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
- Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó, toà án tiến hành giải quyết và xử lí vụ án bằng việc ra bản án hoặc các quyết định cần thiết khác. - Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo của tố tụng hình sự, trong đó, toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm của toà án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. - Thi hành án là một giai đoạn của tố tụng hình sự nhằm thực hiện bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật.“ - Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó toà án xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lí vụ án (giám đốc thẩm) hoặc có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó (tái thẩm). Sự phân chia các giai đoạn nay gắn liền với trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng.
Mỗi giai đoạn tuy độc lập nhưng vẫn nằm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành hoạt động thống nhất. Giai đoạn trước là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Kết thúc một giai đoạn lại phải có kết luận dưới hình thức văn bản tố tụng hình sự để giải quyết vụ án hay chuyển sang giai (1). Hiện nay, có quan điểm cho rằng thi hành án không phải là một giai đoạn của tố tụng hình sự mà là một chuyên ngành luật độc lập nhưng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì thi hành án vẫn được xem là một giai đoạn của tố tụng hình sự.
II đoạn kế tiếp. Tất cả các hoạt động trong các giai đoạn trên phải được tiến hành theo quy định của luật tố tụng hình sự.