chương 1: MH 10-01 Giới thiệu: Là môn học cơ sở tuy nhiên dung sai đo lường lại là môn học có nhiều kiến thức bố ích đối với người học, nó mang lại cho người học những kiến thức về các lắp ghép chỉ tiết, về sai lệch kích thước,.phục vụ cho công việc gia công và chế tạo. Mục tiêu: ~ Trình bày đầy đủ kích thước danh nghữa, kích thước thực, kích thước giới hạn, dung sai chỉ tiết, dung sai lắp ghép ~ Trình bày rõ đặc điểm của các kiểu lắp ghép: Lắp lỏng - Lắp chặt - lắp trung gian ~ Trình bày đầy đủ các quy định về lắp ghép theo hệ thống lỗ và hệ thống trục, hai dãy sai lệch cơ bản của lỗ và trục các lắp ghép tiêu chuẩn ~ Vẽ đúng sơ đồ phân bố miền dung sai theo hệ thống lỗ và hệ thống trục và xác định được các đặc tính của lắp ghép khi cho một lắp ghép. ~ Xác định được phạm vi phân tán kích thước của trục và lỗ đẻ điều chỉnh dụng cụ cắt và kiểm tra kích thước gia công ~ Giải thích đúng các dạng sai lệch về hình dạng, sai lệch vị trí bề mặt được ghỉ trên bản vẽ gia công ~ Biểu điễn và giải thích đúng các ký hiệu độ nhám trên bản vẽ gia công - Tuân thủ đúng quy định, quy phạm về dung sai và kỹ thuật đo. Nội dung chính: 1.1 Kích thước, sai lệch giới hạn, dung sai lắp ghép.
Mục tiêu: ~ Trình bày được tính đổi lẫn chức năng trong cơ khí ~ Trình bày được các khái niệm về kích thước và dung sai lắp ghép ~ Ứng dụng vào việc giải các bài tập có liên quan 1.1 Khái niệm về tính đổi lẫn chức năng trong ngành cơ khí chế tạo. Bản chất của tính lắp lẫn Máy do nhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ phận do nhiều khâu, khớp, chỉ tiết lắp ghép lại với nhau, trong chế tạo cũng như sửa chữa máy, con người mong muốn các chỉ tiết máy cùng loại có khả năng lắp đổi lẫn được cho nhau - nghĩa là khi cần thay thế nhau, không cần lựa chọn và sửa chữa gì thêm mà vẫn đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật của mồi lắp ghép. Tính chất đó của chỉ tiết gọi là tính lắp lẫn (đổi lẫn chức năng ). 7 Tính lắp lẫn của một loại chỉ tiết máy là khả năng.
thay thế cho nhau trong lắp ghép mà không cần lựa chọn và sửa chữa gì thêm vẫn đảm bảo chất lượng san phim đã quy định. Tính lắp lẫn có 2 loại đó là lắp lẫn hoàn toàn và lắp lẫn không hoàn toàn. Nếu trong một loạt chỉ tiết cùng loại, mà các chỉ tiết đều có thé Li được cho nhau thì loạt chỉ tiết đó đạt được tính lắp lẫn hoàn toàn; nếu một số trong các chỉ tiết ấy không lắp lẫn cho nhau được hoặc khi lắp lẫn cho nhau. cần phải gia công thêm mới lắp ghép được thì loạt chỉ tiết đó chỉ đạt được tính lap lần không hoàn toàn.
Các chỉ tiết có tính lắp lẫn phải giống nhau về hình dạng về kích thước, hoặc kích thước chỉ được khác nhau trong một phạm vi cho phép nào đó, phạm vi cho phép đó gọi là dung sai. Như vậy dung sai là yếu tố quyết định tính lắp lẫn, tuỳ theo giá trị của dung sai mà chỉ tiết đạt được tính lắp lẫn hoàn. toàn hay lắp lẫn không hoàn toàn. Lắp lẫn hoàn toàn đòi hỏi chỉ tiết phải có độ chính xác cao, do đó giá thành sản phẩm cao.
Đối với các chỉ tiết tiêu chuẩn như bu lông- dai ốc, bánh răng, ô lăn. các chỉ tiết dự trữ, thay thế thường được chế tạo có tính lắp lẫn hoàn toàn. Lắp lẫn không hoàn toàn cho phép các chỉ tiết chế tạo với phạm vi dung sai lớn hơn, thường thực hiện đối với công việc lắp ráp trong nội bộ phân xưởng hoặc nha may. Vai trò của tính lắp lẫn Tính lắp lẫn trong chế tạo máy là điều kiện cơ bản và cần thiết của nền sản xuất tiên tiến.
Trong sản xuất hàng loạt, nếu không đảm bảo các nguyên tắc của tính lắp lẫn thì không thể sử dụng bình thường nhiều loại đồ dùng phương tiện trong cuộc sống của chúng ta. Ví dụ : Lắp một bóng đèn điện vào đui đèn; vặn đai ốc vào một buléng bất kỳ có cùng kích cỡ kích thước, lip 6 lăn có cùng số hiệu về kích thước. vào trục và Ö trục nào đó. Trong sản xuất, nhờ tính lắp lẫn của chỉ tiết quá trình lắp ráp được đơn giản thuận tiện.
Trong sửa chữa, nếu thay thế một chỉ tiết bị hỏng bằng một chỉ tiết dự trữ cùng loại. Vi dy: xéc ming, piston .thi may có thé làm việc được ngay, giảm thời gian ngừng máy để sửa chữa, tận dụng được thời gian sản xuất của nó. 'Về mặt công nghệ, nếu có các chỉ tiết được thiết kế và chế tạo đảm bảo tính lắp lẫn sẽ tạo điều kiện cho việc hợp tác sản xuất giữa các xí nghiệp, thực hiện chuyên môn hoá dễ dàng, tạo điều kiện để áp dụng kỹ thuật tiên tiến, tô 8 chức sản xuất hợp lý, nâng cao năng xuất và chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.2 Kích thước,s lệch giới hạn, dung sai lắp ghép a. Kích thước Kích thước là giá trị bằng số của đại lượng đo chiều dài (đường kính, chiều dài,.) theo đơn vị đo được lựa chọn.
Trong công nghệ chế tạo cơ khí, đơn vị đo thường dùng là milimét (mm) hoặc vạch và qui ước thống nhất trên các bản vẽ kỹ thuật không cần ghỉ chữ “mm”. Ví dụ chỉ tiết máy có đường, kính 19,95 mm, chiều dài 125,5 mm thì trên bản vẽ chỉ ghỉ 19,95 và 125,5. Kích thước danh nghĩa Kích thước danh nghĩa là kích thước được xác định dựa vào chức năng của chỉ tiết, sau đó chọn cho đúng với trị số gần nhất của kích thước có trong. bản tiêu chuẩn.
Ví dụ khi tính toán người thiết kế xác định được kích thước. của chỉ tiết là 35,785 mm; đối chiếu với bản tiêu chuẩn chọn kích thước là 36 mm. Kích thước 36 mm này là kích thước danh nghĩa của chỉ tiết. Kích thước danh nghĩa được dùng để xác định các kích thước giới hạn và tính sai lệch.
'Kích thước danh nghĩa của chỉ tiết lỗ ký hiệu là D; của chỉ tiết trục ký hiệu là d(hình 1.1) a) Te b)Lỗ Hình 1. Ký hiệu kích thước của trục và lỗ Bang 1.1 "ác kích thước tiêu chuẩn được cho trong khoảng từ 1 đến 500mm (TCVN 192 ~ 66. Kích thước tru tiên) KT | 22| 50 | 11,0 | 250| 550 | 1250| 2800 105| 24| 52 | 115 | 260| 600 | 1300| 3000 110] 25] 5,5 120 | 280| 630 1400| 320/0 1,15 26| 6,0 13,0 30,0} 65/0 1500| 340,0 1,20 28| 63 14,0 32,0} 70,0 1600| 360,0 1,30 30| 65 15,0 34,0} 75,0 1700| 380,0 1,40 32| 7.0 17 38| 85 19,0 42,0} 950 2100| 480,0 1,8 40} 90 20,0 450| 100,0} 220,0| 500/0 19 42| 9⁄5 210 480| 1050| 240,0 2,0 45 100| 220 500| 1100| 250/0 2,1 48 10,5| 24,0 520| 1200| 260,0 e, Kích thước thực Kích thước thực là kích thước đo được trực tiếp trên chỉ tiết bằng những dụng cụ đo và phương pháp đo chính xác nhất mà kỹ thuật đo có thể đạt được. Trong thực tế không phải lúc nào cũng xác định được kích thước một cách chính xác, như vậy nên còn cho phép quan niệm kích thước thực là kích.
thước được xác định bằng cách đo với sai số cho phép. Dt: Kich thước thực của chỉ tiết lỗ dt: Kích thước thực của chỉ tiết trục. Khi gia công, không thể đạt được kích thước thực hoàn toàn đúng như kích thước danh nghĩa, sự sai lệch giữa kích thước thực và kích thước danh nghĩa phụ thuộc nhiều yếu tố : độ chính xác của máy, dao gia công, dung cu ga lap, dụng cụ đo kiểm, trình độ tay nghề của người thợ v. Miễn sai lệch cho.
phép của kích thước thực so với kích thước danh nghĩa phụ thuộc vào mức độ chính xác yêu cầu và tính chất lắp ghép của các chỉ tiết. Kích thước giới hạn 'Khi gia công bắt kỳ một một kích thước của chỉ tiết nào đó, ta cần phải quy định một phạm vì cho phép của sai số chế tạo kích thước đó. Pham vi cho phép ấy được giới hạn bởi hai kích thước quy định gọi là giới hạn.: Kích thước giới hạn lớn nhất của lỗ, trục Dạ, dạ, : Kích thước giới hạn nhỏ nhất của lỗ, trục Kích thước giới hạn là hai kích thước lớn nhất và nhỏ nhất mà kích thước thực của các chỉ tiết đạt yêu cầu nằm trong phạm vi đó. Pham vi cho phép phải quy định sao cho các chỉ tiết đạt được được tính lắp lẫn về phương diện kích thước.
10 Như vậy chỉ tiết đạt yêu sử dụng thì kích thước thực của nó thoả mãn điều kiện sau: Dmax 2 Dt > Dain max 2 dt > drain e. Sai lệch giới hạn Sai lệch giới hạn là sai lệch của các kích thước giới hạn so với kích thước danh nghĩa, là hiệu số giữa các kích thước giới hạn và kích thước danh nghĩa. Có 2 loại sai lệch giới hạn đó là sai lệch giới hạn trên và sai lệch giới hạn dưới Sai lệch giới hạn trên là hiệu đại số giữa kích thước giới hạn lớn nhất và kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới hạn trên của lỗ ký hiệu là ES, của trục ký hiệu là es (Hình 1.4) es =dm„=d (12B) m8 M a iz | yh ala 3? a7 4_| 47 ae j a b e da Hình 1.
Sai lệch giới hạn của chỉ tiết 16 (a, b) và chỉ tiết trục (e, đ) Sai lệch giới hạn dưới là hiệu đại số giữa kích thước giới hạn nhỏ nhất và kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới dưới trên của lỗ ký hiệu là El, của trục ký hiệu là ei (Hình 1.0) ei=dm„=d (124) Chú ý: 1- Tuỳ theo tính chất của mối ghép yêu cầu mà kích thước giới hạn có những giá trị khác nhau. Sai lệch giới hạn có giá trị đương (> 0) (Hồnh 1.2b,c) khi kích thước giới hạn lớn hơn kích thước danh nghĩa. il Sai lệch giới hạn bằng không khi kích thước giới hạn bằng kích thước.
2- Ngoài sai lệch giới hạn TCVN 2244 ~ 77 còn qui định sai lệch thực và sai lệch cơ bản. Sai lệch thực là hiệu đại số giữa kích thước thực và kích thước danh nghĩa. Sai lệch cơ bản là một trong hai sai lệch (trên hoặc dưới) được dùng để xác định vị trí của miền dung sai so với đường “0 (đường biểu thị vị trí kích thước danh nghĩa), trong tiêu chiẩn này quy định sai lệch gần với đường “0° là sai lệch cơ bản.