TRAN VAN DICH ĐH SA0 ĐỒ TT-TT THỰ VIỆN pd GA (Giáo trình cho sinh viên cơ khí thuộc các hệ đào tạo) Tn lần thứ ba có sửa chữa và bổ sung a NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT HÀ NỘI - 2009 Chịu trách nhiệm xuất bẩn: TS. Phạm Văn Diễn Biên tập uà sửa chế bản: Nguyễn Thị Diệu Thuý Trình bày 0à chế bắn: Hoà Bình, Trịnh Thị Tiệp Vé bia: Thay Duong NHÀ XUẤT BAN KHOA HOC VA KỸ THUẬT 70 Tran Hung Dao — Ha Noi In 1.000 cuốn, khổ 16 x 24cm, tại Xưởng in NXB Văn hoá Dân tộc Số đăng ký KHXB: 209-2009/CXB/509-10/KHKT ngày 18/3/2009 Quyết định xuất bản số: 50/GĐXB-NXBKHKT ngày:20/3/2009 In xong và nộp lưu chiểu Quý II năm 2009. LỚI NÓI ĐẦU Ngành chế tạo máy chiếm mội vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nễn kinh tế quốc dân. Vi vay, phải đẩy mạnh việc cải tiến kỹ thuật trong ngành chế tạo máy đặc biệt là vấn đề cơ khí tro hóa và tự động hóa, mà trong đó trang bị cong nghệ đóng một vai hết sức quan trọng.
Đồ gâ chiếm một tỷ lệ rất lớn trong trang bị công nghệ. Sử dụng đồ gá cho phép giải quyết được ba vấn đề cơ bắn sau: 1. Làm tăng nhanh quá trình định vị chỉ tiết (không cần lấy dấu) trên máy cắt kim loại. Tăng năng suất lao động và giảm nhẹ điều kiện lao động (do cơ khí hóa đồ gá, sit dung đồ gá nhiều vị trív.
Mô rộng khả năng công nghệ của các máy, cho phép gia công những bề mặt phức tạp trên các máy thông thường. Như vậy, đồ gá có ảnh hung lớn đến quả trình sản xuất. Trong sẵn xuất lớn, mỗi chỉ tiết gia công trung bình cần có 10 đồ gá. Giá thành chế tạo chúng chiếm 15 + 20% giá thành của thiết bị.
Hiện nay, công việc thiết kể và chế tạo toàn bộ trang bị công nghệ (trong đó đồ gá là chủ yếu) cho một sẵn phẩm cơ khi có thể chiếm tới 80% khối lượng lao động của quá trình chuẩn bị sẵn xuất trong điều kiện sẵn xuất thông thường. Tuy nhiên, để có thể thiết kế và chế tạo được đồ gá thì kỹ sư cơ khí phải có kiến thức sâu về nguyên lý và kết cấu của đồ gá. Cuốn sách "Đồ gá” này được biên soạn để làm tài liệu học tập cho môn “Đồ ga” trong chương trình đào tạo kỹ sư cơ khí hệ đại học. Ngoài ra, nó còn dùng làm tài liệu cho cán bộ kỹ thuật tại các nhà máy cơ khí và các xí nghiệp sửa chữa thiết bị công nghiệp khác nhau.
Các học,viên cao học hoặc nghiên cứu sinh cũng cô thể dùng tài liệu này để thiết kế và chế tạo các mô hình thí nghiệm phục vụ cho để tài nghiên-cứu của mình. Do biên soạn lần đầu nên cuốn sách chắc còn có những sai sót về các mặt. Chúng tôi mong nhận được những ý kiến dang góp, phê bình dé lan tai ban sau cuốn sách được hoàn chỉnh hơn. Những ý kiến đóng góp xin gửi về Bộ môn Công nghệ .chế tạo máy, trường Đại học Bách khoa Hà Nội hoặc Nhà xuất bắn Khoa học và Kỹ thuật, 70 Trần Hưng Đạo, Hà Nội.
PHAN LOAIL BO GA Trang bị công nghệ được chia ra làm hai loại: đồ gá và dụng cụ phụ. - Đồ gá là những trang bị phụ dùng để xác định vị trí chính xác của các chỉ tiết rồi kẹp chặt chúng lại. - Dụng cụ phụ là những trang bị phụ dùng để kẹp dao. Đồ gá được chia ra các loại sau day: 1.
Dựa vào đạng sản xuất (sản xuất đơn chiếc, sản xuất hàng loạt, sản xuất hàng khối), vào hình dáng và kích thước của chỉ tiết, người ta chia đồ gá gia công ra các loại: đổ gá vạn năng, đồ gá chuyên dùng, đổ gá vạn năng - lắp ghép, đồ gá tháo lắp và đồ gá vạn năng - điều chỉnh. Đồ gá van năng Đồ gá vạn năng được dùng trong sản xuất đơn chiếc, chế thử, trong các phân xưởng dụng cụ và sửa chữa. Đồ gá vạn năng cho phép gá đặt nhiều loại chỉ tiết khác nhau (có hình dáng và kích thước khác nhau). Các đồ gá vạn năng thông dụng là: mâm cặp các loại, êtô máy, đầu phân độ, bàn quay, mam quay v.
Đồ gá vạn năng có độ chính xác thấp và thời gian gá đặt chỉ tiết lớn hơn so với các loại đổ: gá khác: Tính vạn năng của đồ gá loại này là khả năng điều chỉnh các chỉ tiết kẹp chặt. Dé gd van năng - lắp ghép Đồ gá vạn nang - lap ghép được sử dụng trong sản xuất đơn chiếc (chế thủ) hoặc sản xuất hàng loạt nhỏ. Đồ gá loại này được lấp ghép từ những chỉ tiết đã được chế tạo sẵn và được lưu giữ trong kho. Để có một đề gá gia công cụ thể người ta chọn một số chỉ tiết đồ gá đã được chế tạo sẵn đem lắp ghép lại với nhau.
Thời gian để lắp một đổ gá loại.trung bình khoảng 2-3 gid. Độ chính xác gia công chỉ tiết trên đồ gá vạn năng-lấp ghép phụ thuộc vào chất lượng lip rấp, độ mòn và trạng thái của các chi tiết định vị. Với chất lượng lắp ráp bình thường thì độ chính xác gia công đạt cấp 3, còn với chất lượng lắp ráp cao thì độ chính xác gia công có thể đạt cấp 2. Sau khi gia công xong, tất cả các chỉ tiết, đồ gá lại được tháo rồi ra và chuyển vào kho để bảo quan.
Đồ gá tháo lắp Đồ gá tháo lắp được dùng trong sản xuất hàng loạt nhỏ và hàng loạt vừa. Về chức năng thì nó là đồ gá chuyên dùng, bởi vì nó được lắp cho một loại chỉ tiết cụ thể giống như đồ gá vạn năng - lắp ghép. Khi lấp loại đồ gá -này có thể phải sửa chữa một số chỉ tiết và sử dụng một số loại chỉ tiết chuyên dùng. Ưu điểm của đồ gá loại này là qua trình lấp ráp đơn giản.
Nhược điểm của chúng là độ cứng vững không cao do phải sử dụng các mối lắp ren. Đồ gá vạn năng - điều chỉnh Đồ gá vạn năng - điều chỉnh được dùng trong sản xuất hàng loạt vừa khi việc sử dụng đổ gá chuyên dùng và dé gá vạn năng không đem lại hiệu quả kinh tế. Đồ ga vạn năng - điều chính gồm các chỉ tiết được lắp với nhau có điều chỉnh thay đổi. Khi thay đổi chỉ tiết điều chỉnh thì thân đồ ga va co cấu truyền động được giữ nguyên (các chỉ tiết này là các chỉ tiết không tháo lắp).
Việc kẹp chat của đỏ gá vạn năng - điều chỉnh có thể được thực hiện bằng tay hoặc cơ khí. Cơ cấu kẹp cơ khí có thể được lấp ngay trên đồ gá hoặc được lắp riêng biệt. Đồ gá chuyên dùng Đồ gá chuyên dùng được sử dụng cho một nguyên công nhất định, vì vậy nó chỉ được thiết kế cho một chỉ tiết nhất định. Các đồ gá loại này cho phép gá đặt nhanh và độ chính xác gá đặt cao.
Để giảm giá thành của đồ gá người fa thường dùng những chỉ tiết tiêu chuẩn. Thời gian sử dụng dé ga chuyên dùng là 3 - 5 năm. Sau thời gian đó dé gá không đảm bảo độ chính xác cần thiết, cho nên người ta phải thay đồ gá mới. Đồ gá kiểm tra Đồ gá kiểm tra được dùng để kiểm tra phôi (hoặc chỉ tiết) ở các nguyên công trung gian hoặc ở nguyên công cuối cùng của quy trình công nghệ, đồng thời nó còn được dùng để kiểm tra các bộ phận lấp ráp của sản phẩm.
Đô gá lắp ráp Dé gd lip ráp được dùng để thực hiện các mối lắp ghép các chỉ tiết lại với nhau để tạo thành các cụm lắp ráp hoặc sản phẩm. Người ta thường dùng các loại đồ gá lắp ráp như sau: để Kẹp chặt các chỉ tiết cơ sở của đơn vị lắp ráp; để gá đặt chính xác các chỉ tiết lắp ráp: để tạo biến dạng của các chỉ tiết lắp ráp và để nền, ép khi lắp ráp có nhu cầu. GÁ ĐẶT CHI TIẾT TRÊN ĐỒ GÁ nghệ phải, Khi thiết kế quy trình công nghệ gia công cơ nhà công yêu cầu, Gá đặt biết chọn chuẩn định vị của chỉ tiết để đảm bảo độ chính xác định vị trí chỉ tiết gia công bằng các chuẩn định vị trên đồ gá cho phép xác tương đối cuả nó so với dụng cụ cất. đổ gá Thông thường, có ba phương pháp gá đặt chỉ tiết gia công trên sau đây: ` 1.
Rà gá theo bề mặt. Rà gá theo đường đấu đã vạch sẵn. 3, Gá đặt chỉ tiết trên đồ gá. xuất đơn Hai phương pháp đầu.
được dùng để gá đặt chỉ tiết trong sản đạt độ chính chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ. Phương pháp thứ ba cho phép được dùng trong xác vị trí của chỉ tiết cao hơn bai phương pháp đầu và nó ` sản xuất hàng loạt lớn và hàng khối, 2. Nguyên tác gá đặt chỉ tiết trên đô gá. hệ tọa Theo ‘co hoc, một vật rắn có sáu bậc tự do khi ta đặt nó trong động tịnh tiến độ ba chiêu Đếcác (hình 2.
Sáu bậc tự do đó là: ba chuyển ba trục đó: Hình dọc ba trục ox, oy, 0z và ba chuyển động quay xung quanh sáu chốt tỳ) từ 1 2.1 cho thấy: sắu bậc tự do được hạn chế nhờ sáu điểm (hay chế cả sấu bậc tự đến 6. Mỗi điểm hạn chế một bậc tự do. Như vậy, để hạn này được bố trí do của chỉ tiết phải cần 6 điểm (hay sáu chốt tỳ). Các điểm ‘ trong ba mặt phẳng vuông góc với nhau: các điểm 1, 2 và 3 nằm :” : 7 trong mat phang xoy han chế ba bậc tử do (tịnh tiến đọc trục oz va quay Z| |” ‘ / | xung quanh các trục ox, 0y); các điểm # On 4 và 5 nằm trong mặt phẳng zoy hạn ché hai bac tu do (tinh tién dọc trục Ole “fw Z J Wy ox vA quay xung quanh truc 02); diém 6 han ché bac ty do tinh tién doc truc [% oy.
Cac lực kẹp w, wạ, W¿ (cÓ thể chỉ ⁄. cẩn một trong ba lực kẹp đó) có tác y ⁄4Ð0/_ ;@ l _ We 2-1 dụng đẩy chỉ tiết tỳ sát vào các chốt tỳ : ở các mật-phẳng và giữ cho chỉ tiết. ˆ không bị xe dịch đưới tác dụng của Hình 2. Sơ đồ định vị chí tiết theo nguyên tắc 6 điểm.
Người ta dùng nguyên tác 6 điểm để định vị chỉ tiết khi gia công, nhưng không phải lúc nào cũng phải hạn chế cả 6 bậc tự do, mà số bậc tự do được hạn chế phụ thuộc vào từng trường hợp gia công cụ thể.