Chương 1 TỔNG QUAN Trong chương này, nghiên cứu sinh trình bày tổng quan về đề tài với các nội dung: tính cấp thiết của đề tài, mục đích và đối tượng nghiên cứu của đề tài, phạm vi nghiên cứu, hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, cấu trúc của luận án, các nội dung này được trình bày cụ thể như sau: 1. Tính cấp thiết của đề tài Thông tin di động là một trong những lĩnh vực rất cần thiết trong đời sống của xã hội loài người. Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người về truyền thông, về tương tác trực tuyến ngày càng cao. Cùng với sự tiến triển này, mạng không dây với các công nghệ nG và các thế hệ mạng tiếp theo đã, đang và sẽ ra đời để phục vụ cho nhu cầu của con người.
Sự bùng nổ về số lượng các thiết bị truy cập, các loại hình mạng và dịch vụ khác nhau đã kéo theo đó là sự giới hạn về tốc độ truy cập, dung lượng, băng thông, năng lượng, độ trễ khi truyền tín hiệu trong mạng viễn thông. Những hạn chế này thể hiện rõ trong các mạng từ 1G đến 4G. Trong các mạng này, kỹ thuật truy cập được triển khai là đa truy cập trực giao (OMA). OMA bao gồm những kỹ thuật như TDMA, CDMA, FDMA và OFDM.
Đề tài này tập trung vào nghiên cứu vấn đề thu thập năng lượng tại các trạm chuyển tiếp, góp phần kéo dài thời gian hoạt động của các trạm chuyển tiếp trong các hệ thống đa truy cập không trực giao chuyển tiếp hợp tác, truyền năng lượng và thông tin không dây đồng thời, sử dụng các giao thức PSR, TSR, DF để thu thập năng lượng, giải mã và chuyển tiếp thông tin từ nút 1 nguồn đến nút đích. NOMA gần đây đã được chứng minh là một trong những kỹ thuật có tính khả thi cao để triển khai cho mạng 5G và các thế hệ mạng tiếp theo, để vượt qua những trở ngại của các công nghệ hiện tại như EE, độ trễ và sự công bằng của các thiết bị người dùng [80], [87]-[88]. Một trong những đặc điểm nổi bật của kỹ thuật NOMA là cho phép nhiều thiết bị người dùng sử dụng chung các tài nguyên về thời gian, tần số và/hoặc miền mã [80]. Một thiết bị người dùng mạnh, tức là thiết bị người dùng ở gần trạm cơ sở (NU), có điều kiện kênh truyền tốt hơn, được cung cấp hệ số phân bổ công suất thấp hơn so với thiết bị người dùng yếu, tức là thiết bị người dùng ở xa trạm cơ sở (FU), có điều kiện kênh truyền kém hơn, đảm bảo tính công bằng giữa các thiết bị người dùng [4], [6], [87], [89].
Hai kỹ thuật chính được triển khai trong NOMA bao gồm mã hóa chồng chất [88] và loại bỏ nhiễu liên tiếp [87]-[88]. Như một phiên bản mở rộng của NOMA, NOMA hợp tác (C-NOMA) [91]-[92] khai thác thiết bị người dùng với điều kiện kênh truyền tốt hơn, cụ thể là thiết bị người dùng chuyển tiếp, để hỗ trợ chuyển tiếp thông tin cho một thiết bị người dùng khác có điều kiện kênh truyền kém hơn. Vì vậy, C-NOMA có thể tăng mức độ phủ sóng của trạm cơ sở và tăng cường hiệu suất của hệ thống NOMA. Trên thế giới hiện nay có rất nhiều nhóm nghiên cứu về kỹ thuật NOMA cho mạng 5G và các thế hệ mạng tiếp theo, nhóm nghiên cứu ở trường Đại học Middlesex [1]- [2] quan tâm tới vấn đề năng lượng của hệ thống NOMA trong mạng HCRAN, vấn đề cảm nhận phổ trong mạng vô tuyến nhận thức.
Nhóm nghiên cứu ở trường Đại học Manchester [3] đã và đang nghiên cứu vấn đề NOMA hợp tác, các giải thuật chọn lựa chuyển tiếp kết hợp với thu thập năng lượng (EH) trong mạng ứng dụng công nghệ NOMA. Thực hiện EH từ các tần số vô tuyến có thể giúp giải quyết bài toán hạn chế năng lượng, kéo dài thời lượng pin trong các thiết bị điện tử, các cảm biến 2 không dây cũng như các trạm chuyển tiếp của mạng truyền thông không dây [91]-[92]. Tại các trạm chuyển tiếp, việc thực hiện EH được triển khai ở giai đoạn đầu tiên của khối thời gian truyền tín hiệu. Năng lượng thu thập được là dành riêng cho: i) tiêu thụ tại trạm chuyển tiếp và ii) chuyển tiếp thông tin đã giải mã tới nút đích.
Sự kết hợp giữa SWIPT và C-NOMA trong các hệ thống 5G đã chứng minh EE vượt trội và vùng phủ sóng rộng hơn so với OMA [31], [89]. Hơn nữa, bằng cách chuyển tiếp thông tin đến thiết bị người dùng ở xa, trạm chuyển tiếp dựa trên SWIPT C-NOMA có thể cải thiện tính nguyên bản cũng như độ tin cậy của dữ liệu được truyền cho những thiết bị người dùng yếu [93]. Giao thức PSR và giao thức TSR được khai thác tại các trạm chuyển tiếp dựa trên SWIPT để thực hiện EH và IP [4], [6], [29], [94]. Trong [95], tổng thông lượng của các thiết bị người dùng trong hệ thống C-NOMA dựa trên SWIPT đã được nghiên cứu.
Các biểu thức toán học gần đúng và các biểu thức toán học tường minh của OP đã đạt được. Trong [96], hai giao thức dựa trên SWIPT, đó là CNOMA SWIPT-PS và CNOMA-SWIPT-TS, đã được đề xuất. Tính hiệu quả của các cơ chế đề xuất đã được chứng minh là vượt trội so với OMA và so với công việc trong [97]. Trong [90], SWIPT dựa trên hệ thống C- NOMA đã được điều tra.
Một thiết kế chung cho các hệ số PS và yếu tố PS đã được đề xuất để cải thiện hiệu suất hệ thống. Các biểu thức phân tích cho OP của thiết bị người dùng gần và xa cũng đã được cung cấp. Trong [98], SWIPT dựa trên PSR cho C-NOMA đã được nghiên cứu. So với giao thức trong [99], giao thức này có thể giảm đáng kể OP của những thiết bị người dùng mạnh và tăng thông lượng hệ thống.
Trong [100], OP và thông lượng của giao thức TSR được đề xuất ưu việt hơn so với giao thức TSR thông thường. Trong các công trình [85], [89], [93], [95]-[100] có sự kết hợp giữa 3 SWIPT và C-NOMA, các nghiên cứu phân tích xác suất dừng, thông lượng của hệ thống, so sánh giữa NOMA và OMA. Tuy nhiên, các vấn đề về hiệu quả năng lượng, tác động của các thông số liên quan, hiệu suất ở SNR cao vẫn chưa được giải quyết trong các công bố này. Luận án này là sự kết hợp giữa SWIPT và C-NOMA sử dụng các giao thức PSR, TSR, DF đề thu hoạch năng lượng, giải mã và chuyển tiếp thông tin từ nguồn đến đích, phân tích và đánh giá hiệu năng của hệ thống qua các thông số OP (ở SNR thấp và SNR cao), thông lượng, tốc độ trung bình và EE.
Có hai cơ chế chuyển tiếp dữ liệu chủ yếu trong C-NOMA có hỗ trợ chuyển tiếp, bao gồm DF và AF [87]. Hơn nữa, trong chuyển tiếp dựa vào C- NOMA, các thiết bị người dùng ở xa thường nhận được tín hiệu đã truyền từ trạm phát, được chuyển tiếp từ các trạm chuyển tiếp [100]-[104]. Nguyên nhân là do có một số chướng ngại vật trong đường truyền [4], [6], [105]. Tuy nhiên, trong các mô hình hệ thống không có chướng ngại vật, những thiết bị người dùng ở xa này có thể nhận tín hiệu từ cả trạm chuyển tiếp hợp tác và từ trạm cơ sở, tức là, trạm chuyển tiếp dựa vào C-NOMA với các liên kết trực tiếp [53],[106]-[108].
Trong [106], một cơ chế DF động dựa trên C-NOMA cho truyền đường xuống đã được đề xuất. Biểu thức OP của cơ chế đề xuất được thiết lập bằng cách áp dụng lý thuyết xử lý điểm. Trong [109], ba cơ chế chuyển tiếp hợp tác đã được đề xuất trong một hệ thống C-NOMA dựa trên DF. Hiệu suất hệ thống cho các cơ chế đề xuất vượt trội so với chuyển tiếp hợp tác DF không có liên kết trực tiếp và truyền chồng chất các tín hiệu cho nhiều thiết bị người dùng không qua chuyển tiếp.
Trong [110], một hệ thống C-NOMA dựa trên DF với đường liên kết trực tiếp giữa trạm phát và thiết bị người dùng yếu đã được nghiên cứu. Trong [111], một hệ thống hợp tác giữa thiết bị với thiết bị với NOMA trong đó trạm cơ sở có thể truyền thông đồng thời với tất cả các thiết bị người dùng đã được xem xét. Hai chiến 4 lược giải mã, cụ thể là cơ chế giải mã tín hiệu đơn và cơ chế giải mã kết hợp tỷ lệ tối đa (MRC), đã được đề xuất. Các kết quả mô phỏng cho thấy rằng tổng tốc độ trung bình cũng như OP đạt được tốt hơn so với các cơ chế NOMA thông thường.
Các tác giả ở [112] đã đề xuất một giao thức cho phép trạm cơ sở chuyển đổi một cách mềm dẻo giữa các phương thức trực tiếp và gián tiếp trong hệ thống C-NOMA với hai thiết bị người dùng. Các kết quả phân tích đã chứng minh được rằng giao thức được đề xuất ưu việt hơn so với giao thức C- NOMA thông thường. Trong [77], hiệu suất dừng của hệ thống SWIPT NOMA dựa trên DF kép với đường liên kết trực tiếp đã được trình bày. Việc sử dụng các trạm chuyển tiếp để chuyển tiếp thông tin từ trạm cơ sở đến nút đích và thực hiện EH từ RF đã được nghiên cứu trong các công nghệ hiện tại như OFDMA, SWIPT/WPT [113]-[115].
Hiệu suất dừng từ đầu đến cuối của phương pháp đề xuất đã được đánh giá và so sánh với hiệu suất của phương pháp lựa chọn chuyển tiếp OFDM. Lựa chọn chuyển tiếp này là tối ưu hóa tỷ lệ phân chia theo công suất của các nút cuối cũng như của chuyển tiếp, sóng mang và phân công công suất sao cho tốc độ tổng của hệ thống được tối đa hóa dưới các giới hạn về năng lượng thu được và công suất truyền. Trong [115], một cuộc khảo sát về các kỹ thuật thu thập năng lượng được hỗ trợ bởi SWIPT và WPT đã được trình bày. Kết quả khảo sát đã thể hiện một cách chi tiết về các công nghệ mới nổi tiềm năng khác nhau cho truyền thông thế hệ thứ năm (5G) với 5 SWIPT/WPT.
Ở Việt Nam, một số trường Đại học cũng đang quan tâm nghiên cứu về công nghệ NOMA như trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh [4], trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh [5], Học viện Công nghệ Bưu Chính Viễn Thông Cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh [6] và một số trường Đại học khác [7]. Cũng nghiên cứu về kỹ thuật NOMA, trong luận án này, nghiên cứu sinh giải quyết bài toán hiệu năng của mô hình mạng NOMA chuyển tiếp hợp tác với một trạm phát và hai thiết bị người dùng.