Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP CƯ Ở LIÊN MINH CHÂU ÂU 1. Khái niệm về nhập cư Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa chung về “nhập cư” để có thể áp dụng một cách phổ biến trên toàn cầu. Nhập cư là hoạt động di chuyển chỗ ở đến vào một vùng hay một quốc gia mới. Dân nhập cư là người dân di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để định cư hoặc tạm trú.
Theo Cơ quan thống kê EU (Eurostat), người nhập cư là những người đến hoặc trở về từ nước ngoài để về sống ở một đất nước trong một thời gian nhất định, trước đó họ đã cư trú ở một nơi khác [82]. Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Anh Oxford dân nhập cư là bộ phận những người chuyển đến định cư tạm thời, hoặc vĩnh viễn từ một khu vực, quốc gia tới một nơi khác sinh sống. Có rất nhiều lý do để người ta di cư: lý do kinh tế, gia đình, học tập, việc làm. - Bất kỳ ai khi rời bỏ một quốc gia để đến một quốc gia khác được xem là người nhập cư, ngoại trừ vì lý do chiến tranh hay đàn áp chính trị.
Liên Hợp Quốc định nghĩa - “người nhập cư dài hạn là những người ở lại nước tiếp nhận trong thời gian hơn một năm, mặc dù họ không liên tục sinh sống tại nước đó trong vòng hơn một năm” [112]. Các hình thức nhập cư Có nhiều loại hình nhập cư khác nhau tùy vào mục đích của người nhập cư và nhu cầu của nước tiếp nhận có thể phân loại một cách tương đối như sau: - Dựa vào tính pháp lý: có nhập cư hợp pháp và nhập cư bất hợp pháp. Nhập cư hợp pháp là loại hình nhập cư được luật pháp của cả nước gốc và nước nhập cư cho phép. Nhập cư bất hợp pháp là nhập cư trái với luật pháp của nước gốc hoặc nước tiếp nhận, hoặc trái với luật pháp của cả hai nước [7, tr.
- Dựa vào thời gian cư trú: có nhập cư dài hạn và nhập cư ngắn hạn. 9 - Nhập cư với mục đích kinh tế: có các loại hình như nhập cư theo lực lượng lao động, nhập cư tị người tị nạn nhập cư, nhập cư theo diện đoàn tụ gia đình, học tập, kinh doanh, du lịch, chữa bệnh… Có thể nói, các cách phân loại loại hình nhập cư như trên chỉ mang tính chất tương đối, tùy theo các vấn đề, tình hình, tính chất mỗi nước đưa ra những tiêu chí phân loại khác nhau. Ở EU có bốn lý do khiến nhiều người mong muốn được nhập cư vào: vấn đề lao động nhập cư vào EU để làm việc, vấn đề đoàn tụ gia đình, tị nạn chính trị, học tập là những loại hình nhập cư chủ yếu, có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của các nước thành viên. Quyền di cư để làm việc hoặc học tập là một thực tế của nền kinh tế toàn cầu hóa.
Xét về lâu dài, tình trạng nhập cư sẽ ngày càng gia tăng chứ không giảm, xét xu hướng nhân khẩu học của châu Âu hiện nay. Vì vậy, châu Âu phải tăng cường đoàn kết và cùng nhau hành động để giải quyết cuộc khủng hoảng di cư. Sơ lược quá trình phát triển chính sách nhập cư của EU Ngay từ Hiệp ước Rome, Hiệp ước sáng lập EC vấn đề nhập cư và cư trú đã được chú ý. Điều 3(c) của Hiệp định Rome năm 1957 quy định “huỷ bỏ những trở ngại về việc đi lại tự do cá nhân giữa các nước thành viên”.
Tuy nhiên, đến năm 1993, sự ra đời của thị trường thống nhất và việc mở rộng liên minh sang các nước Trung và Đông Âu đã gia tăng áp lực lên toàn thể cộng đồng, đòi hỏi EU phải có một chính sách chung về nhập cư. Nhằm tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên và chống lại những ảnh hưởng bất lợi của các nhóm nhập cư bất hợp pháp, ngày 14/6/1985, 5 nước gồm Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, Lucxemburg đã ký kết Hiệp ước Schengen với mục đích kiểm soát chặt chẽ dòng người di cư ngay tại cửa khẩu biên giới phía ngoài của cộng đồng. Hiệp ước cũng kêu gọi xóa bỏ chế độ kiểm tra về hộ chiếu giữa các nước thành viên. - Khu vực Schengen hiện nay với 22/28 nước là thành viên EU bao gồm: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Đan Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thuỵ Điển, Phần Lan, Cộng hòa Séc, Hungary, Ba 10 Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia, Malta.
Đối với công dân các nước ngoài EU chỉ cần được cấp thị thực nhập cảnh của 1 nước trong khu vực Schengen là có thể đi lại tự do trong toàn khối. Năm 1993, Hiệp ước Masstricht khẳng định sự ra đời của Liên minh châu Âu liên kết trên 3 trụ cột: kinh tế, an ninh đối ngoại và tư pháp nội vụ, hướng tới hoàn thiện thị trường thống nhất và Liên minh Kinh tế - Tiền tệ, thì chính sách di cư và nhập cư trong khu vực mới thực sự chuyển biến. Một nội dung quan trọng của Hiệp ước là đã đưa ra khái niệm công dân châu Âu, tạo nên cơ sở pháp lý quan trọng để người dân châu Âu có thể tự do di chuyển giữa các thành viên, đồng thời là cơ sở pháp lý cho các cơ quan của EU tham gia vào Hiệp ước Schengen, đảm bảo các quyền đi lại của công dân EU [3, tr.25] Hiệp ước Amsterdam chính thức đưa Schengen vào khuôn khổ pháp lý của EU như là “Schengen acquis”. Bộ luật Schengen bao gồm Hiệp ước Schengen 1985, Công ước Schengen 1990 cũng như các quyết định và thỏa thuận khác trong quá trình thực hiện Schengen.
Khi hiệp ước Amsterdam có hiệu lực năm 1999, quyền hạn gia quyết định của Schengen thuộc về Hội đồng Bộ trưởng EU như những quyền cơ bản, không phân biệt đối xử, tư pháp và đối nội, chính sách xã hội và việc làm, chính sách đối ngoại và an ninh chung của EU. Hiệp ước Amsterdam có một số thay đổi căn bản trong hệ thống quản lý của EU như mở rộng phạm vi áp dụng phương thức bỏ phiếu theo đa số; mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục đồng quyết định; tạo ra thủ tục hợp tác tăng cường và nhấn mạnh đến 4 mục tiêu cơ bản là coi việc làm và quy công dân là vấn đề trung tâm của EU, xóa bỏ những rào cản cuối cùng còn lại trong lưu chuyển tự do trên thị trường thống nhất, tạo một tiếng nói chung có trọng lượng hơn của EU trong các công việc quốc tế và làm cho thể chế EU hoạt động có hiệu quả hơn. Tất cả nhằm bổ sung khuôn khổ pháp lý đã được thông qua tại Maastricht về việc sử dụng đồng tiền chung châu Âu Euro với hai tiêu chuẩn rất quan trọng, đó là các nước thành viên Khu vực đồng tiền chung (Eurozone) phải đảm bảo nợ công không vượt quá 60% GDP và bội 11 chi ngân sách không vượt quá 3% GDP để xây dựng một Liên minh Kinh tế và tiền tệ châu Âu (EMU) được thực hiện từ 1/1/1999 với một đồng tiền chung duy nhất (đồng Euro). Mặc dù Schengen chính thức trở thành một nội dung liên kết của EU, nhưng không phải áp dụng cho tất cả các nước thành viên.
Hiệp ước Tampere được thông qua ở Phần Lan đã thống nhất yêu cầu phải thiết lập Chính sách di cư chung và Cơ chế cư trú chính trị chung châu Âu. Xây dựng các yêu cầu cần thiết cho chính sách nhập cư chung của EU, đó là [58]: 1) Chính sách nhập cư dựa trên phương pháp tiếp cận toàn diện của sự quản lý nhập cư. 2) Chính sách bao gồm đối xử công bằng các nước thứ 3 nhằm trao các quyền và nghĩa vụ tương đương càng nhiều càng tốt cho các công dân đến từ các nước thứ 3 nhập cư ở các nước thành viên. 3) Các chính sách quản lý phải là sự phát triển quan hệ hữu nghị giữa các nước bao gồm các chính sách hợp tác phát triển.
4) Bất kỳ chính sách chung nào cho vấn đề tị nạn phải tôn trọng tuyệt đối các điều khoản của công ước Geneva và nghĩa vụ của các nước thành viên của các điều ước quốc tế. Đến tháng 11/2004, Hội nghị Brussel thông qua chương trình cho trụ cột tư pháp và nội vụ được gọi là chương trình Hague, đưa ra những điều kiện chính trị cho việc giải quyết các vấn đề nhập cư trong vòng 5 năm, nhưng đã ít tham vọng hơn so với Hội nghị Tampere. Chương trình Hague nhấn mạnh sự cần thiết phải trao đổi thông tin và kinh nghiệm nhưng không động chạm tới quyền hạn của các nước thành viên, mà chỉ kêu gọi các nước thành viên và các thể chế của EU phát triển những nguyên tắc chung có chú trọng tới tính gắn kết trong khuôn khổ EU về nhập cư [3]. Cộng đồng chung châu Âu kêu gọi phát triển sâu rộng hơn nữa Chính sách di cư và cư trú chính trị của EU.
Năm 2004, các mục tiêu chính sách này đã được mở rộng theo Chương trình Hague, nhấn mạnh nhu cầu mạnh mẽ về chính sách toàn diện của EU trong tất cả các giai đoạn nhập cư, bao gồm xác định quyền con người và dân sự của người nhập cư và người xin tị nạn. 12 Năm 2005, Hội đồng châu Âu đã thông qua những nguyên tắc cơ bản chung về Chính sách hội nhập người di cư trong EU (CBPs) và Chương trình chung cho Hội nhập tạo khung pháp lý cho việc hội nhập những người quốc tịch thứ ba tại EU. Năm 2007, EU soạn thảo hai chỉ thị là Chỉ thị về các điều kiện làm việc ở EU của người lao động có trình độ cao và Chỉ thị về các quyền của người nhập cư hợp pháp trong lĩnh vực lao động. Nội dung của hai bản chỉ thị này làm tăng tính hấp dẫn và đảm bảo tất cả lao động nhập cư được đối xử công bằng ở EU, tạo điều kiện cho họ có quyền cư trú dài hạn (Chỉ thị Hội đồng 2003/109/EC).
Đặc biệt nhằm mở rộng số lượng người nhập cư có trình độ vào EU. Ủy ban châu Âu đã đưa ra đề xuất thiết lập hệ thống Thẻ Xanh EU (EU Blue Card) với mục đích ưu tiên cấp giấy phép cư trú và làm việc theo thủ tục nhanh gọn cho các lao động trình độ cao từ các nước thứ 3 làm việc tại các nước thành viên EU. Tháng 10/2008, Hiệp ước châu Âu về di cư và cư trú chính trị được Ủy ban châu Âu thông qua. Bằng Hiệp ước này, quan điểm của EU là hướng tới một nhận thức chung cho chính sách quản lý di cư hiệu quả của các nước thành viên EU.