Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tăng cường cho vay khai thác thủy hải sản. Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay khai thác thủy hải sản tại Ngân hàng TMCP Công Thương- CN Bắc Nghệ An (từ năm 2011- nay). Chương 3: Giải pháp tăng cường cho vay khai thác thủy hải sản tại Ngân hàng TMCP Công Thương- CN Bắc Nghệ An. CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TĂNG CƢỜNG CHO VAY KHAI THÁC THỦY HẢI SẢN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Vài nét về ngân hàng thƣơng mại và dịch vụ ngân hàng.1 “Khái niệm ngân hàng thương mại” “Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Thông qua hoạt động tín dụng thì ngân hàng thương mại tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lại suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng.” “Theo Luật các Tổ chức tín dụng: Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM). Trong đó theo Luật ngân hàng nhà nước thì Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nộidung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.” “Như vậy, Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán nhằm mục đích lợi nhuận.” “Hiện nay, ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường.Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽđược huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.
“Vai trò của ngân hàng thương mại” “Thứ nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh; Thứ hai, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là kết quả tác động nhiều mặt của đổi mới hoạt động ngân hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngân hàng trong việc huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính sách cho vay và cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứ chủ yếu vào tính khả thi và hiệu quả của từng dự án, từng lĩnh vực ngành nghề để quyết định cho vay. Dịch vụ ngân hàng cũng phát triển cả về chất lượng và chủng loại, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh; Thứ ba, tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục. Với dư nợ cho vay nền kinh tế chiếm khoảng 35-37% GDP, mỗi năm hệ thống ngân hàng đóng góp trên 10% tổng mức tăng trưởng kinh tế của cả nước; Thứ tư, đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững.
Thông qua nguồn vốn tín dụng cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông thôn. Việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng cho mục đích này ngày càng có tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, nhất là từ khi tín dụng chính sách được tác bạch với tín dụng thương mại và giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội đảm nhiệm; Thứ năm, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững. Đóng góp này được thể hiện qua công tác thẩm định dự án, quyết định cho vay vốn ngân hàng cho các dự án và giám sát thực hiện một cách chặt chẽ sau khi cho vay, các TCTD luôn chú trọng yêu cầu các khách hàng đảm bảo an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay, tuân thủ các cam kết quốc tế và các qui định về bảo vệ môi trường.3 Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. “Các NHTM ngày nay cung cấp rất nhiều các loại hình dịch vụ tài chính khác nhau, bên cạnh các hoạt động cung cấp dịch vụ mang tính chất truyền thống (huy động vốn, cho vay, thanh toán,…),”và các dịch vụ mới (tư vấn tài chính, quản lý tiền mặt,…).
Một số sản phẩm dịch vụ chính của các NHTM như sau. “Hoạt động huy động vốn: Huy động vốn là hoạt động tạo vốn cho Ngân hàng thương mại, nó đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Hoạt động huy động vốn của một Ngân hàng thương mại bao gồm: Nhận tiền gửi, phát hành các giấy tờ có giá ra công chúng, vay từ các tổ chức khác,vay của NHNN, tự tài trợ bằng vốn chủ sở hữu của ngân hàng và một số hình thức huy động vốn khác theo quy định. Tuy nhiên, dưới bất kỳ hình thức huy động nào thì Ngân hàng thương mại đều phải trả một chí phí nhất định, đó là chí phí huy động vốn hay còn gọi là chi phí đầu vào của ngân hàng.NHTM bù đắp chi phí này qua việc cho vay hay đầu tư.” “Hoạt động cho vay: Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động chính mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng.
Thông qua hoạt động này Ngân hàng có thể bù đắp được các chi phí cho việc huy động vốn.Tuy nhiên,ngân hàng có khả năng đối diện với rủi ro mất khả năng thanh toán là rất lớn, quyết định sự tồn tại của mọi ngân hàng.” Có nhiều hình thức phân loại cho vay như theo thời gian có cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn, theo phương thức cho vay có cho vay từng lần, cho vay hạn mức, theo tài sản bảo đảm có cho vay không tài sản và cho vay có tài sản, theo tính chất luân chuyển vốn có cho vay vốn lưu động và cho vay vốn cố định… “Bảo lãnh ngân hàng: Đây là sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng không cần phải xuất vốn, ngân hàng cấp tín dụng đứng ra bảo lãnh cho khách hàng thực hiện các hợp đồng tài chính, kinh tế, hợp đồng thương mại. Khi người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của họ thì ngân hàng bảo lãnh phải đứng ra trả thay cho khách hàng. Có nhiều loại bảo lãnh như bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh khác theo quy định của NHNN.” “Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: NHTM cung cấp các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ như cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ , dịch vụ thanh toán quốc tế…” Các hoạt động khác: “Ngoài những dịch vụ mang tính truyền thống, NHTM còn thực hiện nhiều hoạt động khác như cung ứng dịch vụ bảo hiểm, kinh doanh ngoại hối, dịch vụ tư vấn tài chính và tiền tệ, bảo quản tài sản, cho thuê két sắt…” 1. Lý thuyết về cho vay khai thác thủy hải sản 1.
Khái niệm cho vay và vai trò của cho vay khai thác thủy hải sản. Khái niệm khai thác thủy hải sản và vai trò của việc khai thác thủy hải sản. Khái niệm khai thác thủy hải sản:“Theo quy định tại khoản 4, Điều 2 Luật Thủy hải sản số 17/2003/QH11 ban hành ngày 26/11/2003 thì khai thác thủy hải sản được hiểu như sau: Khai thác thuỷ hải sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ hải sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác.” “Các Tổ chức, cá nhân muốn khai thác thủy sản phải có Giấy phép khai thác thủy sản, trừ trường hợp cá nhân khai thác thủy sản bằng tàu cá có trọng tải dưới 0,5 tấn hoặc không sử dụng tàu cá. Để được cấp Giấy phép khai thác thủy sản, tổ chức, cá nhân phải đáp ứng đủ các điều kiện sau (Điều 17 Luật Thủy sản 2003): + Có đăng ký kinh doanh khai thác thủy sản; + Có tàu cá đăng ký, đăng kiểm; + Có ngư cụ, phương tiện khai thác phù hợp; + Thuyền trưởng, máy trưởng trên tàu cá phải có văn bằng, chứng chỉ phù hợp theo quy định của pháp luật.” Trong quá trình hoạt động khai thác thủy sản, tổ chức, cá nhân sẽ bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép “khai thác thủy sản thu hồi Giấy phép khai thác thủy sản trong trường hợp sau đây”: + “Không còn đủ điều kiện quy định tại Điều 17 như đã nêu ở trên;” + “Vi phạm nghiêm trọng các quy định của Luật Thủy sản về khai thác thủy sản hoặc đã bị xử lý vi phạm hành chính về hoạt động thủy sản ba lần trong thời hạn của Giấy phép khai thác thủy sản;” + “Tẩy xóa, sửa chữa nội dung Giấy phép khai thác thủy sản;” + “Có hành vi vi phạm khác mà pháp luật quy định phải thu hồi Giấy phép khai thác thủy sản” Hiện nay , nguồn thủy hải sản ở Việt Nam tập trung ở bốn vùng biển chính là Vịnh Bắc Bộ, Vùng biển Miền Trung, Vùng biển Đông Nam Bộ và Vùng biển Tây Nam Bộ.
Trong đó trữ lượng và sản lượng khai thác nhiều nhất tập trung ở Vùng biển Miền Trung. Sản lượng đánh bắt chủ yếu vẫn là cá biển với hơn 2.000 loài, ngoài ra có Giáp xác với hơn 1.500 loài như tôm cua; Nhuyễn thể có trên 2.500 loài như mực, sò, ngêu… cùng một số đặc sản quý khác.Tuy nhiên, hiện nay nguồn lợi thủy hải sản vẫn tập trung ở ven bờ ( dưới 30m nói chung hay 50m đối với vùng biển Miền Trung) chưa khai thác hết nguồn lợi thủy hải sản xa bờ do thiếu tàu thuyền, thiếu nhiều phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện an toàn hàng hải.