CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chung 1. Dữ liệu Trong máy tính, thuật ngữ dữ liệu được xem như là các đặc tính được biết đến mà có thể ghi lại và lưu trữ trên các thiết bị ghi nhớ của máy tính.
Dữ liệu là những mô tả về sự vật, con người và sự kiện trong thế giới thực. Theo [1], Dữ liệu bao gồm các số, kí tự, văn bản, hình ảnh, đồ họa, âm thanh, đoạn phim,…có một giá trị nào đó đối với người sử dụng chúng và được lưu trữ, xử lý trong máy tính. Ví dụ: - Dữ liệu về khách: tên, địa chỉ, thẻ tín dụng - Dữ liệu về ô tô của khách: hãng xe, đời xe, năm sản xuất. - Dữ liệu về nhật ký sửa chữa: ngày phục vụ, tên thợ sửa chữa, số tiền thanh toán.
Trong hoạt động kinh tế xã hội của con người, người ta thường chia ra hai loại dữ liệu: loại dữ liệu phản ánh cấu trúc nội bộ của cơ quan (nhân sự, nhà xưởng, thiết bị, … dữ liệu ít biến động) và loại dữ liệu phản ánh hoạt động của tổ chức (sản xuất, mua bám, giao dịch,…). Trong doanh nghiệp, không kể con người và thiết bị, dữ liệu cùng xử lý là 2 thành phần cơ bản của hệ thống: dữ liệu thường dùng để ghi nhận thực trạng. Có 2 phương pháp quản lý dữ liệu: Hệ thống quản lý bằng file và Hệ thống quản lý bằng CSDL. Một vấn đề quan trọng là các dữ liệu thường rất hiếm khi trực tiếp có ích cho những quyết định của người sử dụng chúng.
Nói cách khác, người ra quyết định thường cần dùng thông tin là kết quả của quá trình xử lý và phân tích dữ liệu để đưa chúng về dạng có ý nghĩa hơn. Quá trình chuyển đổi dữ liệu thành thông tin có thể dựa trên các bảng tổng hợp dữ liệu, hoặc dựa trên báo cáo chi tiết, hoặc dựa trên các số liệu thống kê phức tạp từ các dữ liệu sẵn có. Bất cứ sử dụng phương pháp nào thì việc ra quyết định vẫn chính là dựa trên một vài dạng chuyển đổi dữ liệu. Nếu không có dữ liệu, ta sẽ không thể chuyển đổi được thành thông tin cần thiết.
Cơ sở dữ liệu Theo [2], Cơ sở dữ liệu được xác định như là một bộ sưu tập các dữ liệu có liên quan logic với nhau, nó được tổ chức, sắp xếp theo một cách nào đó và được 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hệ ứng dụng của một đơn vị/cơ quan cụ thể nào đó sử dụng, truy xuất thông tin hoặc cập nhật dữ liệu. Có thể hiểu CSDL là một tập hợp dữ liệu có liên quan với nhau chứa thông tin về một tổ chức nào đó (trường đại học, công ty, …) được lưu trữ trên các thiết bị nhớ như băng từ, đĩa từ để đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin đồng thời của nhiều người sử dụng, nhiều chương trình ứng dụng tại cùng thời điểm với nhiều mục đích khác nhau. CSDL được tổ chức có cấu trúc: Các dữ liệu lưu trữ có cấu trúc thành các bản ghi, các trường dữ liệu và các dữ liệu được lưu trữ có mối quan hệ với nhau. CSDL thường được sử dụng với những ứng dụng cài đặt riêng lẻ trong máy tính cá nhân, hoặc dưới dạng một CSDL tập trung trên mạng LAN, hoặc dưới dạng một CSDL phân tán trên mạng WAN.
CSDL được các hệ ứng dụng khai thác bằng ngôn ngữ con dữ liệu hoặc bằng các chương trình ứng dụng để xử lý, tìm kiếm, tra cứu, sửa đổi, bổ sung hay loại bỏ. Đối tượng nghiên cứu CSDL là các thực thể và mối quan hệ giữa các thực thể. Các thành phần của môi trường sử dụng CSDL bao gồm: - Tệp và CSDL - Phần cứng và hệ điều hành - Cấu trúc dữ liệu và phương pháp truy xuất dữ liệu. Một số đặc tính của CSDL: - Tính tự mô tả: Hệ CSDL không chỉ chứa bản thân CSDL mà còn chứa định nghĩa đầy đủ ( mô tả ) của CSDL.
Các định nghĩa được lưu trữ trong danh mục ( bảng ) chứa các thông tin về cấu trúc tập tin, kiểu và dạng thức lưu trữ của mỗi thành phần dữ liệu và những ràng buộc dữ liệu. - Tính độc lập: Vì định nghĩa cấu trúc CSDL được lưu trữ trong bảng nên khi có thay đổi nhỏ về cấu trúc ta ít phải sửa lại chương trình. - Tính trừu tượng: Hệ CSDL cho phép trình bày dữ liệu ở một mức trừu tượng cho phép, nhằm che bớt những chi tiết lưu trữ thật của dữ liệu.Trừu tượng hóa dữ liệu như là mô hình dữ liệu. - Tính nhất quán: lưu trưc dữ liệu thống nhất tránh được tình trạng trùng lặp thông tin.
Có cơ chế điều khiển truy xuất dữ liệu hợp lý tránh được việc tranh chấp dữ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liệu, bảo đảm dữ liệu luôn đúng tại mọi thời điểm. Quản trị cơ sở dữ liệu Quản trị CSDL là quản lý một số lượng lớn dữ liệu, bao gồm cả việc lưu trữ và cung cấp cơ chế cho phép thao tác gồm: thêm, sửa, xóa dữ liệu và truy vấn dữ liệu. Quản trị CSDL giúp dữ liệu được lưu trữ một cách hiệu quả và có tổ chức, cho phép quản lý dữ liệu nhanh chóng và hiệu quả. Nếu tổ chức, đơn vị kinh doanh có hoạt động quản trị CSDL tốt thì năng suất HTTT sẽ hiệu quả và giảm thiểu rủi ro cho hệ thống.
Mục đích của quản trị CSDL: tránh dư thừa, trùng lập dữ liệu, đảm bảo sự nhất quán trong CSDL, các dữ liệu lưu trữ có thể được chia sẻ, có thể thiết lập các chuẩn trên dữ liệu, duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu và đảm bảo bảo mật dữ liệu. Các công việc cần thực hiện: - Theo dõi định kỳ, xử lý sự cố - Sao lưu - Điều chỉnh CSDL - Bảo mật - Phục hồi 1. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu Hệ quản trị cơ sở dữ liệu DBMS (DataBaseManagement System): là một hệ thống gồm một CSDL và các thao tác trên CSDL. Đó là hệ thống chương trình, công cụ cho phép quản lý và tương tác với CSDL.
Trên đó người dùng có thể định nghĩa, thao tác, và xử lí dữ liệu trong một CSDL để xuất ra những thông tin có nghĩa. Ví dụ : IMS , IDS, Access, SQL- Server…. SQL Server SQL Server là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu (Relational Database Management System (RDBMS) ) do Microsoft phát triển, hoạt động theo mô hình khách chủ cho phép đồng thời cùng lúc có nhiều người dùng truy xuất dữ liệu SQL Server sử dụng ngôn ngữ Transact-SQL (T-SQL) để truy vấn dữ liệu. T- SQL là ngôn ngữ SQL mở rộng dựa trên SQL chuẩn của ISO và ANSI.
Các câu lệnh T-SQL được chia làm 3 nhóm: các câu lệnh định nghĩa dữ liệu (DDL), các câu lệnh thao tác dữ liệu (DML), các câu lệnh điều khiển dữ liệu (DCL). T-SQL cung cấp các tính năng lập trình giúp thao tác với CSDL như là một ngôn ngữ lập trình. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SQL Server sử dụng điển hình trong các hệ thống nhỏ đến trung bình chạy trên một hoặc nhiều máy chủ Windows. SQL Server quản lý truy cập và phân quyền người dùng, quản lý tập trung, có hỗ trợ xử lý giao dịch trực tuyến và xử lý phân tích trực tuyến, ứng dụng được cho thương mại điện tử và kho dữ liệu 1.
Khái niệm liên quan trực tiếp tới vấn đề nghiên cứu 1. Hàng hóa Hàng hóa là sản phẩm sản xuất ra để bán theo quan hệ cung – cầu. Quá trình sản xuất và tiêu dùng ngày càng phát triển, sản xuất hàng hóa ngày càng đa dạng, phong phú. Các mức độ của thiết kế cơ sở dữ liệu Thiết kế một CSDL được phân thành các mức: Thiết kế các thành phần dữ liệu mức khái niệm: là sự trừu tượng hóa của thế giới thực.
Thiết kế các thành phần dữ liệu mức logic: là quá trình chuyển CSDL mức khái niệm sang mô hình Lược đồ quan hệ và chuẩn hóa các quan hệ. Thiết kế các thành phần dữ liệu mức vật lý: mức thấp nhất của kiến trúc một CSDL là cơ sở dữ liệu vật lý. CSDL vật lý là sự cài đặt cụ thể của CSDL mức khái niệm. Thực thể và thuộc tính Thực thể là một đối tượng, một địa điểm, con người… trong thế giới thực được lưu trữ thông tin trong CSDL.
Mỗi thực thể bao gồm một hoặc nhiều thuộc tính đặc trưng cho thực thể đó. Dữ liệu được biểu diễn như là một tập hợp các thực thể, mỗi thực thể được biểu diễn bởi một bảng (table). Bảng Bảng là đối tượng được sử dụng để tổ chức và lưu trữ dữ liệu. Một cơ sở dữ liệu bao gồm nhiều bảng và mỗi bảng được xác định duy nhất bởi tên bảng.
Một bảng bao gồm một tập các dòng và các cột: mỗi một dòng trong bảng biểu diễn cho một thực thể và mỗi một cột biểu diễn cho một tính chất của thực thể gồm thuôc tính và có kiểu dữ liệu nhất định Như vậy, liên quan đến mỗi một bảng bao gồm các yếu tố sau: • Tên của bảng: được sử dụng để xác định duy nhất mỗi bảngn trong cơ sở dữ liệu. • Cấu trúc của bảng: Tập các cột trong bảng. Mỗi một cột trong bảng được 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xác định bởi một tên cột và phải có một kiểu dữ liệu nào đó. Kiểu dữ liệu của mỗi cột qui định giá trị dữ liệu có thể được chấp nhận trên cột đó.
• Dữ liệu của bảng: Tập các dòng (bản ghi) hiện có trong bảng. Mỗi bảng có một Khóa (key) – xác định tính duy nhất của bộ dữ liệu trong tập dữ liệu - khóa gồm một hoặc một vài thuộc tính của bảng. Kiểu dữ liệu Mỗi cột trong bảng được quy định bởi một kiểu dữ liệu Kiểu dữ liệu cho phép xác định: loại dữ liệu của cột như dạng số, dạng kí tự, ngày tháng… và giới hạn miền giá trị cho cột 1. Mối quan hệ Mối quan hệ là mối liên kết giữa các tập thực thể (còn gọi là bảng).
Các bảng trong một cơ sở dữ liệu không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ mật thiết với nhau về mặt dữ liệu. Mối quan hệ này được thể hiện thông qua ràng buộc giá trị dữ liệu xuất hiện ở bảng này phải có xuất hiện trước trong một bảng khác. Mối quan hệ giữa các bảng trong cơ sở dữ liệu nhằm đàm bảo được tính đúng đắn và hợp lệ của dữ liệu trong cơ sở dữ liệu.