LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hoạt động tín dụng đã và đang là một trong những hoạt động kinh doanh chính đem lại nguồn thu chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Thái Nguyên nói riêng. Cùng với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng là lĩnh vực có rủi ro lớn nhất. Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thường rất lớn: làm tăng chi phí của ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm hoặc mất đi cùng với sự thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính và cuối cùng làm tổn hại đến uy tín và vị thế của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng luôn song hành với hoạt động tín dụng, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiệt hại tối đa khi rủi ro xảy ra. Từ năm 2006, khi Việt Nam bắt đầu gia nhập WTO thì nền kinh tế phát triển khá nhanh, trong đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ với sự năng động của mình đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển của nền kinh tế. Bởi vậy, Chính phủ cũng như các bộ ban ngành đã dành khá nhiều sự ưu đãi cho các doanh nghiệp thuộc diện này, đặc biệt là nguồn vốn vay tư từ các ngân hàng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ do mới được thành lập quy mô còn nhỏ, do đó rất dễ chịu ảnh hưởng của các biến động kinh tế Việt Nam và thế giới.
Đặc biệt, từ năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chinh toàn cầu đã gây ra vô vàn khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Nhận thức được rủi ro tín dụng là một vấn đề hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, do đó trong quá trình làm việc tại Phòng Quản lý rủi ro tín dụng và Đầu tư của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Thái Nguyên, tôi đã chọn chuyên đề :"GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN" nhằm mục đích phân tích, đánh giá thực trạng đồng thời đề xuất những giải pháp tăng cường quản lý rủi ro đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh. Tình hình nghiên cứu đề tài Từ trước đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trong các Ngân hàng Thương mại, tuy nhiên do đặc thù vùng miền đặt các chi nhánh Ngân hàng khác nhau, chiến lược, cơ cấu đầu tư tại mỗi Ngân hàng này cũng khác nhau từng thời kỳ do vậy việc quản lý rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng cũng khác nhau cụ thể như: - Luận văn thạc Sỹ kinh tế: “ Hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại ở nước ta hiện nay”, tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga(2008) Thái Nguyên đề cập đến vấn đề đánh giá hiệu quả của công tác quản lý rủi ro tín dụng chung đối với các Ngân hàng thương mại và tác động của những chính sách quản lý rủi ro tín dụng đối với hoạt động các Ngân hàng. Tuy nhiên, do đặc điểm, chiến lược kinh doanh, định hướng ngành nghề, mô hình kinh tế , thế mạnh tại mỗi địa phương khác nhau do đó chính sách quản lý tín dụng cũng có phần khác nhau tại các chi nhánh Ngân hàng.
- Luận văn cao học” Rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng cổ phần trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” – tác giả: Phan Trọng Nghĩa(2012) để cập đến vấn đề quản lý rủi ro tại Chi nhánh ngân hàng cổ phần, tuy nhiên tác giả mới chỉ đưa ra được các kiến nghị quản lý rủi ro tín dụng đối với hoạt động cho vay tại các Ngân hàng cổ phần riêng lẻ tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên mà hầu hết các Ngân hàng này mới mở chi nhánh trên địa bàn, tập trung ở các phân khúc thị trường và khách hàng nhỏ lẻ mà chưa đánh giá được rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Nhà nước với quy mô lớn, tồn tại từ lâu trên địa bàn với chiến lược kinh doanh, tập trung vào phân khúc thị trường khác. Tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 80% lượng các doanh nghiệp, doanh nghiệp lớn chiếm 7%, còn lại là doanh nghiệp siêu vi mô; Ngành nghề kinh doanh chiếm phần lớn giá trị sản xuất công nghiệp là ngành công nghiệp khai quặng, thép…. Do vậy, hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Thái Nguyên chủ yếu tập trung phần lớn nguồn vốn vào doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời tại chi nhánh Thái Nguyên rủi ro đối với hoạt động cho vay DNVVN cũng chiếm tỷ trọng lớn chinh vì vậy, đề tài này chủ yếu đánh giá rủi ro tín dụng đối với hoạt động cho vay DNVVN và đề ra các biện pháp nhằm quản lý rủi ro tín dụng đối với loại hình doanh nghiệp này 2 z 3. Mục tiêu nghiên cứu - Phân tích, nhận xét, đánh giá về thực trạng quản lý rủi ro tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Thái Nguyên.
- Đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Thái Nguyên. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Quản lý rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng. - Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Thái Nguyên từ năm 2011-2013. Phƣơng pháp nghiên cứu Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Các phương pháp được sử dụng: thống kê, tổng hợp số liệu, tài liệu các loại để so sánh, phân tích, đánh giá việc quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Thái Nguyên. Những đóng góp của luận văn Hệ thống hóa và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp trong hệ thống ngân hàng. Đánh giá thực trạng việc quản lý rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Thái Nguyên: những vấn đề đã làm được và một số hạn chế. Đề xuất một số giải pháp để tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Thái Nguyên.
Kết cấu của đề tài nghiên cứu Gồm 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản lí rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Thái Nguyên Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường quản lí rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Thái Nguyên 3 z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ Tại Việt Nam, căn cứ theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, DNVVN được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 2. Bảng phân chia quy mô doanh nghiệp Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng nguồn Khu vực Số lao động Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động vốn I. Nông, lâm từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng nghiệp và thủy người đến đồng đến 100 tỷ người đến 300 xuống trở xuống sản 200 người đồng người từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 II.
Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng người đến đồng đến 100 tỷ người đến 300 và xây dựng xuống trở xuống 200 người đồng người từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 III. Thương 10 người trở 10 tỷ đồng người đến đồng đến 50 tỷ người đến 100 mại và dịch vụ xuống trở xuống 50 người đồng người (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính Phủ về trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ) 4 z 1. Đặc trưng của doanh nghiệp vừa và nhỏ - DNVVN được thành lập với vốn đầu tư ban đầu ít nên chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả. - DNVVN tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế: Các DNVVN hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông lâm ngư nghiệp.
và hoạt động dưới mọi hình thức như: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể. - DNVVN năng động, linh hoạt và dễ thích nghi trước những thay đổi liên tục của thị trường hơn các doanh nghiệp lớn. Do có ưu thế về quy mô vốn nhỏ, cơ sở vật chất không lớn, mô hình quản lý đơn giản, gọn nhẹ nên DNVVN có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh hơn. Mặt khác, do DNVVN tồn tại ở mọi thành phần kinh tế nên sản phẩm của các DNVVN đa dạng phong phú nhưng số lượng không lớn nên chỉ cần không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, với loại hình kinh tế - xã hội này thì nó sẽ dễ dàng hơn các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn trong việc chuyển hướng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường.