CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ CÁC YẾU TỐ NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC 1. Lý thuyết về tổ chức và năng lực hoạt động của tổ chức 1. Tổ chức và các hoạt động cơ bản của tổ chức 1.1 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của tổ chức Tổ chức là một yếu tố cần thiết của xã hội loài người, từ xã hội sơ khai đến xã hội hiện đại, vì tổ chức thực hiện được những việc mà các cá nhân không thể làm được. Tổ chức thường được hiểu như là tập hợp của hai hay nhiều người cùng hoạt động trong những hình thái cơ cấu nhất định để đạt được những mục đích chung.
[Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Giáo trình quản trị học, NXB Giao thông vận tải, tr5] Các tổ chức đang tồn tại trong xã hội vô cùng phong phú và đa dạng. Có thể có rất nhiều loại hình tổ chức khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại. Tuy khác nhau về nhiều mặt nhưng các tổ chức đều có những đặc điểm chung sau: + Mọi tổ chức đều mang tính mục đích. Tổ chức hiếm khi mang trong mình mục đích tự thân mà là công cụ để thực hiện những mục đích nhất định.
+ Mọi tổ chức đều là những đơn vị xã hội bao gồm nhiều người. Những người đó có chức năng nhất định trong hoạt động của tổ chức, có quan hệ với nhau trong những hình thái cơ cấu nhất định. + Mọi tổ chức đều hoạt động theo những cách thức nhất định để đạt mục đích - các kế hoạch. Thiếu kế hoạch nhằm xác định những điều cần phải làm để thực hiện mục đích, không tổ chức nào có thể tồn tại và phát triển có hiệu quả.
+ Mọi tổ chức đều phải thu hút và phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục đích của mình. Các tổ chức, bất kỳ loại gì, vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận, lớn hay nhỏ, đều dùng đến bốn nguồn lực chủ yếu: nhân lực, tài lực, vật lực và thông tin. + Mọi tổ chức đều hoạt động trong mối quan hệ tương tác với các tổ chức khác. 3 Luận văn Cao học QTKD Viện Kinh tế & Quản lý, ĐH BKHN + Mọi tổ chức đều cần những nhà quản trị, chịu trách nhiệm liên kết, phối hợp những con người bên trong và bên ngoài tổ chức cùng những nguồn lực khác để đạt được mục đích với hiệu quả cao.2 Các hoạt động cơ bản của tổ chức Hoạt động của các tổ chức là muôn hình muôn vẻ phụ thuộc vào mục đích tồn tại, lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội, quy mô, phương thức hoạt động được chủ thể quản trị lựa chọn và các yếu tố ngoại lai khác.
Tuy nhiên mọi tổ chức đều phải thực hiện các hoạt động theo một quá trình liên hoàn trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường. Các hoạt động đó là: + Tìm hiểu và dự báo những xu thế biến động của môi trường để trả lời những câu hỏi: Môi trường đòi hỏi gì ở tổ chức? Môi trường tạo ra cho tổ chức những cơ hội và thách thức nào? Trong thế giới ngày nay, hoạt động nghiên cứu và dự báo môi trường được coi là hoạt động tất yếu đầu tiên của mọi tổ chức. + Tìm kiếm và huy động các nguồn vốn cho hoạt động của tổ chức. Đó có thể là nguồn vốn của những người tào nên tổ chức, nguồn vốn có từ hoạt động có hiệu quả của tổ chức hay nguồn vốn vay.
+ Tìm kiếm các yếu tố đầu vào của quá trình tạo ra các sản phẩm hoặc dịch vụ của tổ chức như nguyên vật liệu, năng lượng, máy móc, nhân lực, …. và chọn lọc, thu nhận các yếu tố đó. + Tiến hành tạo ra các sản phẩm và dịch vụ của tổ chức – quá trình sản xuất. + Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ của tổ chức cho các đối tượng phục vụ của tổ chức – các khách hàng.
+ Thu được lợi ích cho tổ chức và phân phối lợi ích cho những người tạo nên tổ chức và các đối tượng tham gia vào hoạt động của tổ chức. +Hoàn thiện, đổi mới các sản phẩm, dịch vụ, các quy trình hoạt động cũng như tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, các quy trình hoạt động mới. + Đảm bảo chất lượng các hoạt động và các sản phẩm, dịch vụ của tổ chức. Khái niệm về năng lực tổ chức 4 Luận văn Cao học QTKD Viện Kinh tế & Quản lý, ĐH BKHN Năng lực được định nghĩa là một bộ kỹ năng, tri thức, các đặc điểm và hành vi có thể quan sát và đo lường.
Đó là khả năng thực hiện các hoạt động theo tiêu chuẩn đặt ra trong tuyển dụng, bằng cách sử dụng những tri thức, kỹ năng, thái độ thích hợp. Một người cần có cả ba phương diện để có thể làm việc hiệu quả nơi công sở. Để nâng cao năng lực, không chỉ cần phải nâng cao kiến thức, mà còn phải hiểu cách áp dụng kiến thức và có kỹ năng áp dụng kiến thức đó (Civilian Personnel Directorate). 6 thành tố của năng lực tổ chức là: - Quản trị và lãnh đạo; - Sứ mệnh, tầm nhìn và chiến lược; - Việc tiến hành và tầm ảnh hưởng của các chương trình; - Các mối quan hệ chiến lược; - Phát triển nguồn lực; - Hoạt động và quản lý trong nội bộ công ty.
Cả 6 nhân tố độc lập này góp phần tạo nên hiệu quả và sự lành mạnh của một tổ chức phi lợi nhuận (Connolly & York, 2003). Việc xác định nhu cầu nâng cao năng lực của tổ chức là một quả trình không đơn giản và rõ ràng, một phần bởi chưa có tổ chức nào thiết lập được những đặc điểm tạo nên một tổ chức hoạt động hiệu quả. Trong các tài liệu hiện có, chưa có tài liệu nào đưa ra một công thức đơn giản cho việc xây dựng năng lực của tổ chức, hay đạt được những kết quả khả quan. Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực hoạt động của một đơn vị nghiên cứu 1.
Yếu tố vĩ mô + Các yếu tố thuộc về mặt kinh tế: Tốc độ tăng trưởng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng thanh toán của họ tăng dẫn tới sức mua và nhu cầu về các loại hàng hoá và dịch vụ tăng lên. Từ đó, yêu cầu của thị trường đặt ra đối với các đơn vị nghiên cứu đó là phải tăng chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm. Việc này thúc đẩy các đơn vị nâng cao khả năng hoạt động để đáp ứng. + Các yếu tố về chính trị, pháp luật: 5 Luận văn Cao học QTKD Viện Kinh tế & Quản lý, ĐH BKHN Một thể chế chính trị, pháp luật rõ ràng, rộng mở và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi cho các đơn vị thực hiện công tác nghiên cứu có hiệu quả.
Các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho các đơn vị tham gia các dự án nghiên cứu lớn nhằm mở rộng khả năng hoạt động. + Trình độ về khoa học, công nghệ. Nhóm nhân tố này quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến năng lực hoạt động của một đơn vị nghiên cứu. Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp cho các đơn vị nghiên cứu trong nước tạo ra được những thế hệ kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và tái trang bị toàn bộ cơ sở nghiên cứu kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân nước ta.
Đây là tiền đề để các đơn vị ổn định và nâng cao khả năng hoạt động của mình. Yếu tố vi mô + Sức ép của các đơn vị nghiên cứu cùng ngành: Sự có mặt của các Viện nghiên cứu cùng ngành, cùng lĩnh vực trong nước và tình hình hoạt động của họ là lược lượng tác động trực tiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động của các đơn vị. Trong một lĩnh vực nghiên cứu bao gồm nhiều đơn vị khác nhau, nhiệm vụ của mỗi đơn vị là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá chính xác khả năng của những đơn vị khác để xây dựng cho mình chiến lược hoạt động nghiên cứu thích hợp. + Sức ép của thị trường: Sức mạnh thị trường thể hiện ở chỗ chúng luôn yêu cầu các đơn vị nghiên cứu phải thay đổi để tạo ra những sản phẩm mới.
Chúng buộc các đơn vị phải nâng cao trình độ, năng lực để tạo ra những sản phẩm hoàn thiện có tính đáp ứng thị trường cao hơn. Yếu tố nội tại. + Nguồn nhân lực. Đây là yếu tố quyết định mọi hoạt động của đơn vị nghiên cứu bao gồm: - Ban Lãnh đạo đơn vị: Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong đơn vị, những người vạch ra chiến lược trực tiếp điều hành, tổ chức thực hiện công việc nghiên cứu của đơn vị.
6 Luận văn Cao học QTKD Viện Kinh tế & Quản lý, ĐH BKHN - Đội ngũ cán bộ nghiên cứu: Đây chính là nòng cốt của 1 đơn vị nghiên cứu. Việc đáp ứng được các yêu cầu tạo ra những sản phẩm mới phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ này. +Nguồn lực tri thức. - Nguồn lực tri thức trong tổ chức: Nguồn lực tri thức trong tổ chức là yếu tố đặc trưng cho năng lực của tổ chức đó.
Nguồn lực tri thức trong tổ chức tồn tại dưới nhiều hình thức: tri thức ẩn, tri thức hiện, tri thức tiềm năng. Để nâng cao năng lực hoạt động, tổ chức cần có biện pháp tổng hợp, quản trị nguồn tri thức này một cách hiệu quả. - Nguồn lực tri thức bên ngoài: Nguồn tri thức bên ngoài vô cùng rộng lớn, nếu tổ chức định hướng, trợ giúp nhân viên của mình được tiếp cận, học hỏi và biến chúng thành nguồn tri thức của tổ chức thì sẽ thành công trong quá trình phát triển của mình. + Nguồn lực vật chất và tài chính.
Máy móc thiết bị và công nghệ: Tình trạng trình độ máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng một cách sâu sắc tới khả năng hoạt động của đơn vị nghiên cứu. Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất trợ giúp đơn vị nghiên cứu ra các sản phẩm mới. + Tiềm lực tài chính của đơn vị. Bất cứ một hoạt động nghiên cứu, mua sắm đầu vào cũng đều phải xét, tính toán trên tiềm lực tài chính của đơn vị.
Một đơn vị có tiềm năng lớn về tài chính sẽ có nhiều thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đâu tư mua sắm trang thiết bị, đảm bảo nâng cao khả năng nghiên cứu sản phẩm.