mở đầu cho thời kỳ suy thoái. Chính sách tín dụng phù hợp là chính sách tín dụng linh hoạt chuyển đổi qua lại giữa hai trạng thái mở rộng và thắt chặt, tùy theo tình hình của nền kinh tế cũng như tình hình quản lý tín dụng của ngân hàng. Mặt khác, chính sách tín dụng của Ngân hàng cần gắn bó chặt chẽ với chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là gắn với chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như lãi suất, tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng GDP. Chính sách tín dụng được xây dựng đúng đắn là điều kiện thiết yếu để quản lý tốt rủi ro tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng của mỗi ngân hàng hiện nay khi phải thích ứng với môi trường kinh tế biến đổi liên tục và thường xuyên.
Xây dựng quy trình tín dụng khoa học Để phù hợp với điều kiện hoạt động kinh doanh, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, các NHTM phải xây dựng quy trình tín dụng một cách khoa học. Quy trình tín dụng hướng dẫn các thủ tục cần thiết, các giải pháp mang tính kỹ thuật trong quá trình xét duyệt cho vay, kiểm tra khoản vay và thu hồi nợ nhằm đảm bảo tính thống nhất về thực hiện nghiệp vụ tín dụng và tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật. Một quy trình tín dụng tốt phải bảo đảm yêu cầu giải quyết được mâu thuẫn giữa nâng cao chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng với yêu cầu an toàn tài sản, hạn chế rủi ro của ngân hàng. Thông qua kiểm soát thực hiện quy trình tín dụng nhà quản trị ngân 16 hàng nhanh chóng xác định những khâu, những công việc cần điều chỉnh, cũng như hướng đào tạo và phân công tương lai để từ đó kiểm soát được những rủi ro khi cấp tín dụng.
Về mặt hiệu quả, quy trình tín dụng hợp lý vừa góp phần nâng cao chất lượng, giảm thiểu rủi ro tín dụng vừa đảm bảo xử lý thủ tục hồ sơ đơn giản, nhanh chóng cho khách hàng, tạo điều kiện nhằm mở rộng tín dụng. 47] Theo quy định của NHNN, các NHTM ban hành quy trình kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn và trả nợ của khách hàng phải phù hợp với quy định tại Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hoạt động tín dụng Chất lượng tín dụng tốt phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng. Vì vậy, để hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hoạt động tín dụng thì mỗi NHTM cần tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ kiểm soát nội bộ về hoạt động tín dụng; đổi mới phương thức kiểm soát tín dụng theo hướng quản lý tập trung, giám sát chặt chẽ và xử lý kịp thời rủi ro.4 Tiêu chí đánh giá kết quả nâng cao chất lượng tín dụng Về mặt định lượng, chất lượng tín dụng được phân tích, đánh giá bởi các tiêu chí sau: a.
Tỷ lệ nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ giữa tổng các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau: Dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ Hiện nay, đối các NHTM Việt nam, việc phân loại nợ theo nhóm nợ thể hiện mức độ đánh giá rủi ro của khoản nợ. Theo thông lệ và theo quy định của 17 Ngân hàng nhà nước Việt nam, trừ nhóm 1 – nợ đủ tiêu chuẩn, các nhóm nợ từ nhóm 2 trở lên (nhóm 2 - nợ cần chú ý, nhóm 3 - nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm 4 - nợ nghi ngờ, nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn) được xem là các khoản dư nợ có rủi ro tín dụng. Vì vậy, tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 – nhóm 5 trên tổng dư nợ tín dụng cho phép đánh giá toàn bộ các biểu hiện rủi ro tín dụng tại một NH nhất định.
Tỷ lệ nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa tổng các khoản nợ xấu so với tổng dư nợ ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ- NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng, tỷ lệ nợ xấu không được vượt quá 5%. Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau: Dư nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100% Tổng dư nợ Theo Phòng Thống kê – Liên hiệp quốc, thì “về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập vào gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. [18] Định nghĩa Nợ xấu của chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới thì “Nợ xấu là các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại”.
[18] Như vậy, nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ thấp. 18 Một định nghĩa mới về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và IAS 39 vừa được Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế cho ra đời và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005. Về cơ bản IAS 39 “chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn”. [18] Phương pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay.
Hiện nay, Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng nhằm đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng. Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau: [19] - Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp: Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt định kỳ chính sách RRTD, xem xét RRTD và xây dựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức chấp nhận rủi ro …); Ban Tổng giám đốc có trách nhiệm thực thi các định hướng này và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư; Các ngân hàng cần đo lường và quản lý RRTD trong mọi sản phẩm và hoạt động của mình, đặc biệt là các sản phẩm mới phải có sự phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc Ủy ban của Hội đồng quản trị. - Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh: xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh; xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình RRTD khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng trong các lĩnh vực, ngành khác nhau; có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với sự tham gia của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng 19 như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia, đồng thời, cần phát triển đội ngũ nhân viên quản lý RRTD có kinh nghiệm, kiến thức nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản lý RRTD; cấp tín dụng cần có sự cẩn trọng và đánh giá hợp lý đối với các khoản tín dụng cấp cho các khách hàng có quan hệ. - Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp; có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối với các danh mục đầu tư có RRTD; hệ thống này phải có khả năng nắm bắt và kiểm soát tình hình, sự tuân thủ các giao kèo của khách hàng … để phát hiện kịp thời những khoản vay có vấn đề; có hệ thống khắc phục sớm đối với khoản tín dụng xấu, quản lý khoản tín dụng có vấn đề; chính sách RRTD của ngân hàng cần chỉ rõ cách thức quản lý các khoản tín dụng có vấn đề; trách nhiệm đối với các khoản tín dụng này có thể được giao cho bộ phận tiếp thị hay bộ phận xử lý nợ hoặc kết hợp cả hai bộ phận này, tùy theo quy mô và bản chất của mỗi khoản tín dụng.
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007, dư nợ cho vay của các TCTD được chia làm 5 nhóm: Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý), Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) và nợ xấu của TCTD bao gồm 3 nhóm nợ như sau: - Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn, và có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi. Bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. - Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất cao. Bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 20 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.
- Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn. Bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.