Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHAT LƯỢNG TÍN DUNG TRUNG VA DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về NHTM 1.Khái niệm chung về NHTM Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế với tư cách là một trung gian tài chính, là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính da dạng - Đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bat kì tổ chức kinh doanh nào trong nên kinh tế”.(Giáo trình ngân hàng thương mại - chủ biên:PGS.TS Phan Thị Thu Hà) Theo luật tô chức tin dụng có hiệu lực từ ngày 01/10/1988 thì NHTM được định nghĩa như sau: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu va thường xuyên là nh Gn tiền gửi của khách hàng v 6i trách nhiệm hoàn tr a và s ử dụng số tiên đó dé cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khẩu và các phương tiện thanh toán”. Hoạt động chủ yếu của NHTM bao gồm: huy động vốn, sử dụng vốn va làm dich vụ thanh toán trung gian.Một số van dé chung về tin dụng ngân hang 1.
Khái niệm tín dụng Ngân hàng Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ La tinh là Credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo bối cảnh cụ thé mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau: Xét trên góc độ chuyên dịch quỹ cho vay từ chủ thể thừa vốn sang chủ thé thiếu vốn thì tín dụng được coi là phương pháp dịch chuyển quỹ từ người cho vay sang người đi vay. Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thé.
Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hang. Tín dụng trên co sở tiếp cận theo chức năng ngân hàng được hiểu như sau: “Tin dung là một giao dịch tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và bên di vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài s ản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên di vay có trách nhiệm hoàn trả vô diéu kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”. (Tín dụng ngân hàng — chủ biên PGS.TS Lê Văn Té) Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng có các đặc trưng sau: Sự chuyền giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác. Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người di vay sử dụng phải có cơ sở dé tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn.
Như vậy sự chuyền giao này mang tính chất tạm thời. Gia tri hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá tri lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Các loại tín dụng Ngân hàng Tín dụng Ngân hàng có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo những tiêu thức phân loại khác nhau Dựa vào mục đích của tín dụng : Theo tiêu thức này TDNH có thê phân chia thành các loại sau: Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp Cho vay tiêu dùng cá nhân Cho vay bất động sản Cho vay nông nghiệp Cho vay kinh doanh xuất nhập khâu Dựa vào thời hạn tín dung: Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tai sản lưu động.
Cho vay trung han: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này nham tai trợ cho việc đầu tư vào tai sản cố định. Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư.
Dựa vào mức độ tín dụng của khách hàng: Cho vay không có bảo dam: Là loại cho vay không có tài sản thé chap, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn dé quyết định cho vay. Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cô hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Dựa vào phương thức cho vay: Cho vay theo món vay Cho vay theo hạn mức tín dụng Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay: Cho vay chỉ có một kì hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn Cho vay có nhiều kì hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kì hạn nợ cụ thể mà tùy vào khả năng tài chính của mình người di vay có thé trả nợ bat kì lúc nào.Téng quan về tín dụng trung và dài hạn của NHTM 1.Khái niệm Tín dụng trung và dài hạn của NHTM: là hình thức tin dụng có thời hạn trên 12 tháng, thường dùng dé tai trợ cho các nhu cầu mua sắm tài sản cố định, đầu tư dây chuyền, công nghệ, mở rộng sản xuat,. Tín dụng trung và dài hạn có những đặc điểm riêng so với tín dụng ngắn hạn, khiến cho tin dụng trung và dai hạn thường tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn tín dụng ngắn han.
Hai đặc điểm khác biệt cơ bản là: Thời gian cho vay dài. Thời gian cho vay dài xuất phát từ yêu cầu của việc triển khai đầu tư và vận hành dự án trong thời gian dài. Do vậy công tác lập, thâm định dự án và đưa ra được những dự báo chính xác là vô cùng quan trọng. Trên cơ sở dự án của khách hàng vay, ngân hàng phải tái thâm định, khảo sát độ nhạy để đảm bảo trong điều kiện những biến đổi các chỉ số đầu vào của dự án thì dự án vẫn cho hiệu quả.
Tuy nhiên, do thời gian vay dai, những biến động về vĩ mô, thị trường nhiều khi khó có thê lường trước và không năm trong dự báo của cả khách hàng và ngân hàng, tiêm ân rủi ro tín dụng trung dài hạn. Quy mô tin dụng thường lớn. Tin dụng TDH chủ yếu là tín dụng đầu tư (máy móc, nhà xưởng, dây chuyền, .) với giá trị lớn. Do quy mô khoản tai trợ lớn, nếu không có sự quản lý chặt chẽ thì ton thất nếu xảy ra đối với ngân hàng rat nặng nề.Vốn dau tư lớn, thời gian đài, thu hôi vốn chậm Nếu như tin dụng ngắn han tài trợ chủ yêu cho nhu cau vốn lưu động của doanh nghiệp và được hoàn tra trong thời hạn ngắn (dưới 1 năm) thì tín dụng TDH phan lớn tài trợ cho nhu cầu hình thành mới các tài sản cố định hoặc đổi mới, cải tién công nghệ mới, trang thiết bị máy móc.
Do đó, việc tài trợ này đòi hỏi một khối lượng vốn lớn. Nguồn trả nợ chính cho các khoản vay này chủ yếu dựa vào khấu hao từ tài sản hình thành từ vốn vay của ngân hàng và lợi nhuận sau thuế tạo ra từ việc thực hiện dự án. Trong khi đó, ngân hàng phải bỏ vốn trong suốt thời gian xây dựng dự án và chỉ tiến hành thu hồi vốn đầu tư khi dự án đi vào hoạt động và điều này dẫn đến thời hạn thu hồi vốn chậm. Thời hạn cho vay được tính bắt đầu từ khi khách hàng nhận được vốn vay cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng.
Thời hạn cho vay phải dựa trên sự thỏa thuận giữa người đi vay và ngân hàng, thông thường thời hạn cho vay của các khoản tín dụng TDH có 2 trường hợp: Khoản vay phát huy hiệu quả sau khi số tiền vay được sử dụng, thời hạn cho vay chính là thời gian thu hồi nợ. Khoản vay phải trải qua một thời gian mới phát huy hiệu quả, khách hàng mới có khả năng trả nợ. Đối với trường hợp này, thời hạn cho vay phải bao gồm thời gian trả nợ và khoảng thời gian phát huy hiệu quả của đồng vốn (thời gian xây dựng cơ bản).Mức độ rủi ro cao Hoạt động tín dụng TDH luôn chịu tác động của nhiều nhân tố. Do khối lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài nên độ rủi ro của một khoản tín dụng TDH là cao.
Kết quả của một dự án đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, dựa trên các chỉ tiêu về hiệu quả tài chính, phương diện kỹ thuật — công nghệ, thị trường, quản trị nhân lực dự án, hiệu quả kinh tế xã hội. khi khoản vay có thời hạn đầu tư dài thì có thé có rất nhiều sự thay đổi trong môi trường kinh tế, luật pháp khiến cho dự án hoạt động không như dự kiến ban đầu hoặc không có khả năng thu hồi vốn.Lợi nhuận từ các khoản cho vay TDH là lớn Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thi lợi nhuận ky vọng mà nhà đầu tư mong đợi càng nhiều. Không năm ngoài quy luật này, các khoản tin dụng T&DH của ngân hàng thường mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn. Do đó, lãi suất của các khoản tín dụng T&DH của ngân hàng thường cao hơn các khoản tín dụng ngắn hạn dé bù đắp cho những chi phí trong việc huy động những nguồn vốn phục vụ cho hoạt động tín dụng T&DH cũng như bù đắp rủi ro.
Lãi suất tín dụng TDH có thé là lãi suất có định hoặc thả nồi, áp dụng luôn cho cả thời hạn vay hoặc cũng có thé là lãi suất thả nỗi được điều chỉnh theo từng kỳ hạn nhất định trong suốt thời hạn vay.Đối với khách hàng Trong nên kinh tế thị trường ngày càng phát triển như hiện nay, sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt thì đòi hỏi khách hàng đặc biệt là các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới công nghệ, đầu tư để tăng khả năng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Để làm được điều này, cần huy động một khối lượng vốn nhất định. Ở Việt Nam hiện nay khi mà thị trường tài chính chưa phát triển hoàn thiện thì tín dụng TDH là một giải pháp tối ưu cho các doanh nghiệp. Thời hạn của khoản vay TDH thường ngắn hơn thời hạn của trái phiếu, do đó có thé có lợi cho doanh nghiệp trong thời kỳ lãi suất cao.