phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ tại KBNN Bình Thuận đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về chất lƣợng dịch vụ KBNN Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng dịch vụ của KBNN Bình Thuận Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng dịch vụ của KBNN Bình Thuận 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ KBNN 1.1 Tổng quan về Kho Bạc Nhà Nƣớc 1.1 Sự ra đời và phát triển của Kho Bạc Nhà Nƣớc Việt Nam Kho bạc Nhà nƣớc Việt Nam là một tổ chức nằm trong hệ thống tài chính Nhà nƣớc, trực thuộc Bộ Tài Chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc về quỹ ngân sách Nhà nƣớc và các quỹ khác của Nhà nƣớc đƣợc giao quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán Nhà nƣớc; thực hiện huy động vốn cho ngân sách Nhà nƣớc. Lịch sử phát triển của Kho Bạc Nhà Nƣớc trải qua các giai đoạn: 1. Nha Ngân khố Quốc gia trực thuộc Bộ Tài chính (giai đoạn 1946-1951) Ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tƣ cách là ngƣời đứng đầu Chính phủ đã ký Sắc lệnh số 75/SL về tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính. Theo đó, Nha Ngân khố Quốc gia (tiền thân của hệ thống KBNN ngày nay) là một tổ chức cấu thành trong bộ máy Bộ Tài chính và trực thuộc Bộ Trƣởng.
Cơ quan quản lý quỹ ngân sách nhà nước thuộc Ngân hàng Nhà nước (giai đoạn 1951-1989) Giữa năm 1951, Chính phủ quyết định giải thể Nha ngân khố, chuyển chức năng quản lý quỹ NSNN sang Ngân hàng Quốc Gia và thành lập Kho Bạc Nhà Nƣớc với nhiệm vụ thu, chi quỹ NSNN, đảm bảo các yêu cầu chi của bộ máy Nhà nƣớc, phục vụ công cuộc kháng chiến, xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nƣớc. Từ năm 1964, KBNN có nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN, tập trung các khoản thu, cấp phát các khoản chi, tổ chức theo dõi và thống kê về tình hình thu chi NSNN. Kho Bạc Nhà Nước trực thuộc Bộ Tài chính (giai đoạn 1990 đến nay) Ngày 04/01/1990, Chính phủ ban hành Quyết định số 07/HĐBT thành lập hệ thống KBNN trực thuộc Bộ Tài chính với chức năng chính là giúp Bộ trƣởng Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nƣớc về quỹ NSNN. Năm 1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/CP quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của KBNN.
Theo đó, KBNN thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc về quỹ NSNN, quỹ dự trữ tài chính Nhà nƣớc, tiền, tài sản tạm thu, tạm giữ; huy động vốn cho NSNN và cho đầu tƣ phát triển. Từ 01/01/2000, KBNN đƣợc Chính phủ giao nhiệm vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn NSNN. Ngày 8/7/2015, Thủ tƣớng Chính Phủ ban hành Quyết định 26/2015/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của KBNN trực thuộc Bộ tài Chính.2 Chức năng, nhiệm vụ của KBNN Theo Quyết định 26/2015/QĐ-TTg ngày 8/7/2015 của Thủ tƣớng Chính phủ, KBNN thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ chính nhƣ sau: Chức năng Thực hiện chức năng tham mƣu, giúp Bộ trƣởng Bộ Tài chính quản lý nhà nƣớc về quỹ ngân sách nhà nƣớc, các quỹ tài chính nhà nƣớc; quản lý ngân quỹ nhà nƣớc; tổng kế toán nhà nƣớc; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nƣớc và cho đầu tƣ phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luậthực hiện chức năng tham mƣu, giúp Bộ trƣởng Bộ Tài chính quản lý nhà nƣớc về quỹ ngân sách nhà nƣớc, các quỹ tài chính nhà nƣớc; quản lý ngân quỹ nhà nƣớc; tổng kế toán nhà nƣớc; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nƣớc và 5 cho đầu tƣ phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật. Tham mƣu, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chƣơng trình, dự án, đề án thuộc lĩnh vực quản lý quỹ ngân sách nhà nƣớc, các quỹ tài chính nhà nƣớc theo quy định.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực quản lý của Kho bạc Nhà nƣớc. Quản lý quỹ ngân sách nhà nƣớc, quỹ tài chính nhà nƣớc đƣợc giao theo quy định của pháp luật. Đƣợc trích tài khoản của tổ chức, cá nhân mở tại Kho bạc Nhà nƣớc để nộp ngân sách nhà nƣớc hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho ngân sách nhà nƣớc theo quy định của pháp luật; từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Tổ chức thực hiện kế toán, tổng kế toán ngân sách nhà nƣớc: 6.
Tổ chức thực hiện công tác thống kê kho bạc nhà nƣớc và chế độ báo cáo theo quy định của pháp luật. Tổ chức quản lý, điều hành ngân quỹ nhà nƣớc tập trung, thống nhất trong toàn hệ thống. Tổ chức huy động vốn cho ngân sách nhà nƣớc và đầu tƣ phát triển thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ. Tổ chức quản trị và vận hành hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc.
Thanh tra chuyên ngành, kiểm tra, kiểm toán nội bộ, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật trong phạm vi quản lý nhà nƣớc của Kho 6 bạc Nhà nƣớc; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng tài sản, kinh phí đƣợc giao theo quy định của pháp luật. Hiện đại hóa hoạt động Kho bạc Nhà nƣớc: a) Xây dựng cơ chế, chính sách và quy trình nghiệp vụ phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn của Việt Nam; b) Tổ chức quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại hoá cơ sở vật chất của hệ thống Kho bạc Nhà nƣớc. Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế thuộc lĩnh vực kho bạc nhà nƣớc theo phân công, phân cấp của Bộ trƣởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật. Thực hiện công tác tổ chức và cán bộ.
Quản lý kinh phí do ngân sách nhà nƣớc cấp và tài sản đƣợc giao theo quy định của pháp luật; đƣợc sử dụng các khoản thu phát sinh trong hoạt động nghiệp vụ theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nƣớc. Thực hiện cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung chƣơng trình cải cách hành chính đƣợc Bộ trƣởng Bộ Tài chính phê duyệt. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trƣởng Bộ Tài chính giao và theo quy định của pháp luật.3 Tổng quan các nghiệp vụ của Kho Bạc Nhà Nƣớc 1.1 Thu ngân sách nhà nƣớc Nhà nƣớc sử dụng quyền lực công để tập trung một phần của cải xã hội hình thành nên quỹ NSNN phục vụ cho việc chi dùng của Nhà nƣớc. Thu NSNN phải đảm bảo thu đúng, thu đủ, chống thất thu cho NSNN.
Nhà nƣớc dùng quyền lực để thu NSNN thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhƣ ban hành các chủ trƣơng, chính sách thu NSNN; hƣớng dẫn thực hiện quy trình thủ tục thu NSNN; áp dụng các biện pháp thoái thu hoặc cƣỡng chế chấp hành nghĩa vụ nộp NSNN. Các khoản thu chính có 7 thể kể đến nhƣ thuế, phí, lệ phí, thu từ hoạt động kinh tế, thu từ thuê đất, thu từ huy động vốn đầu tƣ xây dựng… 1.2 Chi ngân sách nhà nƣớc Là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã đƣợc tập trung vào NSNN và đƣa chúng đến mục đích sử dụng., Đây là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hƣớng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nƣớc. Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo hoạt động bộ máy nhà nƣớc, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.3 Huy động vốn cho NSNN và cho đầu tƣ phát triển Huy động vốn thông qua phát hành các loại Trái phiếu Chính phủ bao gồm: Tín phiếu Kho bạc, Trái phiếu Kho Bạc và Công Trái xây dựng Tổ quốc nhằm động viên các nguồn tài chính nhàn rỗi trong xã hội để bổ sung nguồn vốn đầu tƣ của Nhà nƣớc trên nguyên tắc hoàn trả trực tiếp. Chính phủ rất coi trọng chính sách này, coi đó là một công cụ đắc lực góp phần tăng tiềm lực tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, góp phần thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển.2 Chất lƣợng dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ của Kho Bạc Nhà Nƣớc 1.1 Dịch vụ và dịch vụ công 1.1 Dịch vụ Dịch vụ là ngành không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội tuy nhiên dịch vụ luôn giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngày nay dịch vụ càng chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế và có sự đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Đối với Việt Nam, dịch vụ đang là một trong những ngành mũi nhọn trong chiến lƣợc phát triển kinh tế của Việt Nam. 8 Có rất nhiều khái niệm về dịch vụ: Theo Kotler (1997): “Dịch vụ là mọi hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình, không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể gắn hay không gắn với một sản phẩm vật chất.” Theo Heizer và Render (1999): “Các hoạt động kinh tế sản xuất đặc thù một sản phẩm vô hình nhƣ giáo dục, vui chơi giải trí, thực phẩm và chỗ ở, giao thông vận tải, bảo hiểm, thƣơng mại, chính phủ, tài chính, bất động sản, y tế, sửa chữa và bảo trì”.
Theo ISO 9000:2000: “Dịch vụ là kết quả của ít nhất một hoạt động cần đƣợc tiến hành tại nơi tƣơng giao giữa ngƣời cung cấp và khách hàng và thƣờng không hữu hình”. Theo Kotler và Armstrong (2004): “Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng”. Tuy có nhiều khái niệm về dịch vụ nhƣng nhìn chung các khái niệm này đều nêu ra đặc điểm cơ bản của dịch vụ là các hoạt động, hành vi nhằm tạo ra giá trị, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng; và dịch vụ khác với các sản phẩm hữu hình, dịch vụ thƣờng là vô hình, phi vật thể.