CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING THU HÚT DỊCH VỤ QUẢNG CÁO CỦA CÁC TỜ BÁO 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quảng cáo và kinh doanh quảng cáo 1. Quảng cáo Quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả phí hoặc không để thực hiện việc giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng, quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đó người muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận thông tin.
Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán. Theo khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012 “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân.” Dịch vụ quảng cáo là những hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu của các tổ chức, cá nhân về giới thiệu các sản phẩm hay dịch vụ nhằm bán được hàng hóa hay dịch vụ của tổ chức hay cá nhân cần có sản phẩm hay dịch vụ cần quảng cáo. Kinh doanh quảng cáo Theo mục 6 điều 2 Luật Quảng cáo Việt Nam năm 2012 “Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo theo hợp đồng cung ứng dịch vụ quảng cáo với người quảng cáo. Từ khái niệm trên chúng ta có thể hiểu kinh doanh quảng cáo là việc cung ứng các dịch vụ quảng cáo nhằm mục đích sinh lợi nhuận.
Hay nói cách khác, kinh doanh quảng cáo là quá trình tổ chức sản xuất, lưu thông, mua bán hàng hóa quảng cáo trên thị trường nhằm đảm bảo hiệu quả về mặt kinh tế xã hội, kinh doanh quảng cáo cũng như mọi loại hình kinh doanh khác diễn ra theo một chu trình chặt chẽ, gồm các bước: Tiếp thị, tổ chức sản xuất hàng hóa và dịch vụ quảng cáo; tiếp thị, ký kết hợp đồng kinh tế quảng cáo; tổ chức thực hiện hợp đồng; thanh toán hợp đồng, rút kinh nghiệm để bước vào chu trình mới. Ngành kinh doanh quảng cáo hiện nay được xem như ngành kinh doanh mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới. Có một thực tế là hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển đều có một ngành quảng cáo dịch vụ chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân. Do vậy, các nước có nền kinh tế đang phát triển đều cố gắng phấn đấu đưa ngành quảng cáo trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Kinh doanh dịch vụ quảng cáo của các tổ chức báo chí là hoạt động bán dịch vụ quảng cáo trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các doanh nghiệp khác có nhu cầu sử dụng dịch vụ quảng cáo của các tờ báo nhằm thỏa mãn nhu cầu bán hàng của mình. Ngành kinh doanh dịch vụ quảng cáo đang hoạt động trên khắp thế giới, và nhiều người có tương tác với các doanh nghiệp như vậy hàng ngày. Vai trò và chức năng của quảng cáo 1. Đối với người sản xuất Bảo đảm thế lực trong kinh doanh (phần thị trường ngày càng mở rộng).
Chi phí sản xuất sản phẩm thấp ,luân chuyển vốn nhanh ,giảm hàng hoá tồn kho ,nâng cao hiệu quả sản xuất. Quảng cáo giúp cho lưu thông phân phối đỡ tốn kém. Quảng cáo cho phép người sản xuất, thông tin cho thị trường nhanh chóng về bất kể thay đổi nào về sản phẩm hoặc dịch vụ. Quảng cáo hỗ trợ người bán hàng, làm giảm nhẹ việc đưa hàng hoá vào sử dụng.
Đối với người bán buôn và bán lẻ Quảng cáo giúp cho việc phân phối và bán hàng thuận lợi. Tạo uy tín cho hãng mua và những người bán lẻ đạt được dân số cao. Đối với người tiêu dùng Quảng cáo cung cấp một số tin tức về sản phẩm mới như tính năng, giá cả, chất lượng. Quảng cáo góp phần bảo vệ người tiêu dùng: Nhờ có hoạt động quảng cáo, các cửa hàng phải thường xuyên cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ.
Hạn chế tình trạng độc quyền về sản phẩm cũnh như độc quyền về giá, có hại cho người tiêu dùng. Quảng cáo trang bị cho người tiêu dùng những kiến thức cần thiết để có sự lựa chọn cho mình. Khi một thương nhân hay một hãng đã phát triển một sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của thị trường, sau khi đã phân tích thị trường một cách kỹ lưỡng, anh ta cần thiết lập quan hệ với thị trường mục tiêu thông qua nhiều phương pháp khác nhau để bán sản phẩm của mình được nhiều và bán lặp lại ở lần mua sau. Đương nhiên, con đường tốt nhất để đạt được một thị trường rộng lớn là thông qua các hoạt động xúc tiến hỗn hợp hay truyền thông 11 marketing và quảng cáo là một trong những phương tiện thông tin đại chúng như vậy.
Quảng cáo là một phương tiện của thông tin đại chúng, quảng cáo có thể gây sự chú ý đến khách hàng mục tiêu, thông tin cho khách hàng, từ đó tác động vào sự hiếu kỳ của người tiêu dùng và như vậy sẽ lôi cuốn họ dùng thử và dùng lặp lại ở mua sau. Có thể nói đó là kênh thông tin tốt nhất. Thương nhân và các hãng bán hàng hoá, dịch vụ trong nước và xuất ra nước ngoài đãý thức được sự cần thiết và tầm quan trọng của quảng cáo là phương tiện thông tin có hiệu lực, quảng cáo khuếch trương việc bán hàng hoá, dịch vụ, tín nhiêm và các ýđồ thông qua thông tin và sự thuyết phục. Nhưng một cần hiều rằng bản thân quảng cáo không thể bán những hàng hoá có chất lượng xấu, hàng quáđắt, hoặc hàng không đáp ứng mong đợi của quảng đại quần chúng.
Quảng cáo chỉ giúp cho việc bán hàng diễn ra nhanh hơn và dễ dàng hơn. Quảng cáo có các chức năng như: Quảng cáo là một trong những phương tiện, những công cụ giúp doanh nghiệp hoàn thành những mục tiêu của mình. Tùy vào mục tiêu cụ thể mà hoạt động quảng cáo có những chức năng sau: *Làm cho sản phẩm khác biệt với các đối thủ cạnh tranh, làm cho người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm của công ty vàđâu là sản phẩm cạnh tranh. Đây là chức năng rất quan trọng của quảng cáo, nó quyết định tính sống còn của sản phẩm trên thị trường.
Dầu gội đầu Clear sử dụng hình ảnh của cầu thủ bóng đá Ronaldo được nhiều người mến mộ (quảng cáo những đặc tính riêng có của nhãn hiệu mà không có đối thủ nào có được). * Để thông tin, hướng dẫn cách sử dụng sản phẩm. Chức năng này thường được sử dụng cho những sản phẩm phức tạp, cần có hiều biết nhất định mới có thể sử dụng được như thuốc, mỹ phẩm, máy móc… Chức năng này được trình bày qua các tờ bướm, catalog… 12 * Mở rộng mạng lưới phân phối. Nếu chúng ta thấy sản phẩm được quảng cáo trên báo chí hoặc tivi mà sản phẩm đó không xuất hiện ở tiệm tạp hoá gần nhà, chúng ta có thể sẽ hỏi người chủ tiệm về sản phẩm này, từ nhu cầu của người tiêu dùng mà các điểm bán lẻ sẽ có nhu cầu trữ hàng và cũng có thể xin được làm đại lý cho một nhà sản xuất nào đó.
* Gia tăng sự yêu chuộng và gắn bó với sản phẩm. Hàng điện tử Sony có rất nhiều đối thủ cạnh tranh tại Việt Nam nhưng danh tiếng của nhãn hiệu rất phổ biến trong giới tiêu thụ hàng video và audio nhờ các hoạt động quảng cáo liên tục và rộng khắp. Đặc điểm của quảng cáo Quảng cáo là hình thức truyền thông phải trả tiền; Bên trả phí quảng cáo là một tác nhân được xác định; Nội dung quảng cáo tạo nên sự khác biệt của sản phẩm, nhằm thuyết phục hoặc tạo ảnh hưởng tác động vào đối tượng; Quảng cáo được chuyển đến đối tượng bằng nhiều phương tiện truyền thông khác nhau; Quảng cáo tiếp cận đến một đại bộ phận đối tượng khách hàng tiềm năng; Quảng cáo là một hoạt động truyền thông marketing phi cá thể 1. Quảng cáo trên báo chí Bao gồm 4 loại hình chính là báo truyền hình, báo in, báo điện tử và báo phát thanh + Truyền hình: là phương tiện tác động đến người tiêu dùng đa dạng và toàn diện nhất, bằng âm thanh, hình ảnh sống động.
Chi phí hình thức này thường là đắt nhất. Đôi khi gián tiếp bằng hình thức bảo trợ các show, hay kèm theo logo quảng cáo trên nền sàn, hay treo trên tường đằng sau diễn viên, MC… 13 + Báo in: Quảng cáo thông qua các bài viết, hình ảnh đăng trên báo… + Báo điện tử: Quảng cáo thông qua các bài viết, hình ảnh, banner, clip, âm thanh… + Báo phát thanh: Quảng cáo qua giọng đọc của phát thanh viên phát sóng thông qua radio… 1. Tính chọn lựa cao Tính chọn lựa cao của báo chí vô hình chung tạo ra một mối quan hệ mang tính cá nhân, đôi khi rất mật thiết giữa tờ báo và độc giả. Độc giả chỉ chọn mua những tờ báo họ thích, sau đó chọn xem nội dung họ muốn đọc.
Đó là khác biệt lớn nhất giữa quảng cáo print-ad với các kênh truyền thông khác. Tính chọn lựa cao của báo chí vô hình chung tạo ra một mối quan hệ mang tính cá nhân, đôi khi rất mật thiết giữa tờ báo và độc giả. Bạn cầm tờ báo trên tay, gật gù cách trình bày quen thuộc, đọc văn phong ưa thích, lật đến mục tâm đắc, khi làm việc, trong phòng ngủ hay toilet, đặt xuống khi buồn ngủ rồi lại cầm lên khi bất chợt cần nhớ ra điều gì, etc… là những trải nghiệm lựa chọn rất riêng tư và chủ động mà quảng cáo TV (chương trình định sẵn hằng ngày) hay quảng cáo ngoài trời (chực chờ đập vào mắt) không thể có được. Mang lại sự đồng thuận và thấu hiểu Mọi cảm nhận tốt đẹp về tờ báo đều có thể được chuyển dịch qua cho những brands có quảng cáo trên đó.
Tuy nhiên, sự chuyển dịch này không phải diễn ra tự nhiên. Tính chọn lựa cao tạo ra mối quan hệ cá nhân giữa độc giả và tờ báo.