CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm và đặc trưng của tín dụng 1.1 Khái niệm tín dụng Tín dụng là danh từ xuất phát từ gốc La tinh Creditum có nghĩa là một sự tin tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn thành trả cả gốc và lãi. Trong giáo trình ngân hàng thương mại của Học viện ngân hàng đã nêu theo quan điểm của Các Mác: “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”.[7,tr 115] Như vậy tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa. Quá trình đó được thể hiện qua 3 giai đoạn: Thứ nhất, phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay.
Ở giai đoạn này, giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận được giá trị và cũng chỉ có một bên nhượng đi giá trị. Thứ hai, sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất. Người đi vay sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng, họ được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình. Tuy nhiên, người đi vay chỉ được quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền sở hữu giá trị.
Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 5 Thứ ba, đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng. Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kì sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay.2 Đặc trưng của tín dụng Tín dụng có ba đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị trên cơ sở lòng tin. Ở đây người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn.
Để đảm bảo thời gian thu hồi nợ đúng hạn, người cho vay thường xác định rõ thời gian cho vay. Việc xác định thời hạn đó chủ yếu sẽ dựa vào quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kì luân chuyển vốn của đối tượng vay, có như vậy thì người đi vay mới có điều kiện trả nợ. Thứ ba, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi.
Đây chính là thuộc tính riêng của tín dụng. Do vốn cho vay của ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa nên sau một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho người kí thác. Hơn nữa ngân hàng phải có nguồn trả các khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động: Khấu hao tài sản cố định, trả lương cán bộ nhân viên, … nên ngoài việc trả nợ gốc thì người đi vay còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng “Rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn của ngân hàng không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng với bất kì lý do nào”.58] Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 6 Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng, theo quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN): “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.[9] Vậy rủi ro tín dụng là những thiệt hại kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợ lãi hoặc không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng do các nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Rủi ro tín dụng gây tổn thất về tài chính cho NHTM, đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn; trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.2 Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Căn cứ vào độ rủi ro có thể xảy ra, rủi ro tín dụng được phân thành hai loại: Rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn. + Rủi ro đọng vốn: Là những tổn thất có khả năng xảy ra trong trường hợp đến thời gian hoàn trả nợ vay mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay, người đi vay không hoàn trả nợ đúng hạn. Khi đó có thể dẫn tới đông cứng các khoản vốn làm cho nó kém lỏng. + Rủi ro mất vốn: Là rủi ro xảy ra khi người đi vay đã mất khả năng chi trả.
Do vậy ngân hàng chỉ cón trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp để đỡ một phần nợ gốc. Rủi ro mất vốn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng, làm tăng chi phí: chi phí giám sát, chi phí thanh lý,… tạo thành những khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi của ngân hàng. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 7 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng được phân làm hai loại: Rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. + Rủi ro giao dịch: Là loại rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch bao gồm ba thành phần là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro danh mục: Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia làm hai loại: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại xuất phát từ yếu tố mang tính chất riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế. Rủi ro tập trung là mức dư nợ cho vay được dồn vào một hoặc một số khách hàng, ngành nghề kinh tế, loại vay hoặc khu vực địa lý,….3 Đặc điểm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng.
Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động của ngân hàng. Các ngân hàng phải đánh giá các cơ hội kinh doanh trên mối quan hệ rủi ro- lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận. Tình trạng thông tin bất đối xứng khiến cho ngân hàng không thể nắm bắt được dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, do vậy bất kì khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro với ngân hàng. Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Rủi ro tín dụng xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng, khi khách hàng gặp những tổn thất, thất bại trong quá trình sử dụng vốn thì rủi ro tín dụng xuất hiện.
Hay rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng của ngân hàng. Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, phức tạp: Đặc điểm này thể hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cũng như diễn biến sự việc, hậu quả khi xảy ra rủi ro. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 8 1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 1.1 Nguyên nhân khách quan Rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng: Rủi ro có thể xảy ra do thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh,… Bên cạnh đó môi trường cạnh tranh trong kinh doanh càng gay gắt, quy luật lựa chọn khắc nghiệt của thị trường khiến cho nhiều khách hàng lâm vào tính trạng khó khăn trong hoạt động. Rủi ro từ chính sách vĩ mô của nhà nước: Hoạt động kinh doanh tiền tệ có ảnh hưởng rất lớn tới sự ổn định, phát triển của nền kinh tế, do đó hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng phải chịu sự điều tiết về pháp lý của nhà nước.
Khi môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô sẽ là nguyên nhân khiến rủi ro cao. Rủi ro do an ninh bất ổn, khủng hoảng, suy thoái kinh tế: An ninh trong nước, khu vực bất ổn định, khủng hoảng kinh tế, lạm phát, mất cân bằng cán cân thanh toán, … chính là những nguyên nhân ảnh hưởng hoạt động của khách hàng làm rủi ro tín dụng tăng cao. Những nguyên nhân từ phía khách hàng: Rủi ro tín dụng của ngân hàng xuất phát chủ yếu từ người đi vay. Các nguyên nhân chủ yếu bao gồm: Đối với khách hàng cá nhân + Do thay đổi công việc, thất nghiệp,.
dẫn đến nguồn thu nhập không ổn định, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng. + Rủi ro đạo đức do cố tình sử dụng vốn sai mục đích, không trả nợ vay. Đối với khách hàng doanh nghiệp + Rủi ro từ phía thị trường kinh doanh: Rủi ro xảy ra khi việc xây dựng, triển khai phương án, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không khoa học, dự toán chi phí, xác định sản lượng không phù hợp. Biến động trong thị trường cung cấp đầu vào: Giá cả vật liệu, chi phí sản xuất gia tăng, … Khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh,….
Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 9 + Rủi ro tài chính: Thể hiện khi doanh nghiệp không thể đối phó với các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ.