CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG HỌAT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH 1. Rủi ro tài chính trong họat động sản xuất kinh doanh 1. Định nghĩa rủi ro, rủi ro tài chính Không có định nghĩa cụ thể về rủi ro. Nói chung, rủi ro được định nghĩa như là sự không chắc chắn về những hậu quả tương lai.
Những rủi ro cơ bản như thảm họa thiên nhiên, thương tật người lao động, tai nạn xe hơi, cùng với những rủi ro phức tạp hơn như sự thất bại của hệ thống, nợ khách hàng và rủi ro tài chính, chúng là những vấn đề của quản trị rủi ro. Dù được định nghĩa như thế nào thì rủi ro nên được quan tâm và được quản trị tốt để giảm thiệt hại tiềm tàng. Vì vậy, điều quyết định là hiểu thuật ngữ rủi ro và thực hiện nguyên tắc quản trị rủi ro. * Những rủi ro thường gặp trong tài chính doanh nghiệp - Một là rủi ro về cân đối dòng tiền: các luồng tiền vào doanh nghiệp (dòng thu) và các luồng tiền ra khỏi doanh nghiệp (dòng chi) diễn ra một cách thường xuyên liên tục.
Trên thực tế, tại những thời điểm nhất định có thể xảy ra, hiện tượng lượng tiền vào doanh nghiệp (số thu) nhỏ hơn lượng tiền ra khỏi doanh nghiệp (số chi) đến hạn. Khi đó, tình trạng mất cân đối về dòng tiền đã xảy ra. Sự mất cân đối này tiềm ẩn một rủi ro lớn đối với hoạt động kinh doanh. Do thiếu tiền, việc mua nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu.
phục vụ cho sản xuất kinh doanh có thể bị dừng lại, dẫn đến ngừng sản xuất, kinh doanh; tiền lương của công nhân và các khoản vay (nếu có) không được trả đúng hạn ảnh hưởng lớn tới uy tín của doanh nghiệp. Sự mất cân đối dòng tiền được chia thành: mất cân đối tạm thời và mất cân đối dài hạn. Có thể nói, ở bất kỳ doanh nghiệp nào cũng xảy ra mất cân đối tạm thời do việc thu hồi các khoản nợ phải thu không đúng kế 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạch; việc góp vốn không được thực hiện đúng cam kết. Mất cân đối tạm thời về dòng tiền có thể khắc phục được bằng nhiều biện pháp và hậu quả thường không lớn.
Mất cân đối dài hạn xảy ra do những nguyên nhân quan trọng như: phần định phí trong tổng chi phí của doanh nghiệp quá lớn; vốn lưu động tự có quá ít; nợ khó đòi tăng lên; doanh thu chưa bù đắp đủ các khoản chi phí thường xuyên… Khi lạm phát xảy ra trong nền kinh tế, do tác động dây chuyền giữa các doanh nghiệp, số nợ phải thu, đặc biệt là nợ phải thu khó đòi tăng lên, mất cân đối tạm thời rất dễ chuyển thành mất cân đối dài hạn. Mất cân đối dài hạn về dòng tiền có thể làm cho doanh nghiệp bị phá sản. - Hai là, rủi do về lãi suất tiền vay: để phục vụ kinh doanh, đầu tư, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều phải sử dụng vốn vay. Do đó, lãi suất tiền vay - chi phí sử dụng vốn - trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trong chi phí sản xuất kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp.
Khi lập kế hoạch kinh doanh và dự án đầu tư, lãi suất tiền vay đã được dự tính. Song, có rất nhiều nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp tác động đến lãi suất tiền vay. Thông thường khi lạm phát xảy ra, lãi suất tiền vay tăng đột biến. Do đó, những tính toán, dự kiến trong kế hoạch kinh doanh, đầu tư bị đảo lộn.
Một rủi ro lớn đã xảy ra và ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh. Lượng tiền vay càng lớn, tác động tiêu cực của rủi ro này càng nghiêm trọng và có thể dẫn đến tình trạng phá sản doanh nghiệp nếu nó tồn tại trong một thời kỳ dài. - Ba là, rủi ro về sức mua của thị trường: sức mua của thị trường là nhân tố quyết định khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp và do đó, nó cũng quyết định dòng tiền vào doanh nghiệp. Song, sức mua của thị trường lại phụ thuộc vào khả năng thanh toán.
Khi lạm phát, giá cả hàng hóa trên thị trường tăng cao, thu nhập của người lao động và các tầng lớp 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân cư không tăng hoặc tăng chậm hơn chỉ số lạm phát và tất yếu dẫn đến sức mua giảm. Quan trọng hơn nữa, cơ cấu tiêu dùng cũng thay đổi. Phần lớn khả năng thanh toán tập trung cho những nhu cầu thiết yếu. Vì vậy, sẽ có không ít mặt hàng lượng tiêu thụ sẽ giảm đi đáng kể.
Khi đó, rủi ro về sức mua của thị trường đã xảy ra. Nó thể hiện qua số lượng hàng hóa tiêu thụ được giảm, giá bán không bù đắp được chi phí sản xuất, kinh doanh. - Bốn là, rủi ro về tỷ giá hối đoái: là rủi ro xẩy ra khi các giao dịch kinh tế được thực hiện bằng ngoại tệ và tỷ giá hối đoái biến động theo hướng làm cho đồng nội tệ bị mất giá. Với những doanh nghiệp sử dụng nhiều ngoại tệ, khi tỷ giá hối đoái tăng, số lỗ về tỷ giá có thể làm giảm đáng kể, thậm chí là triệt tiêu toàn bộ lợi nhuận thu được trong kinh doanh.
Đây là rủi ro bất khả kháng của các doanh nghiệp trong một nền kinh tế nhập siêu với tỷ lệ lớn. - Năm là, rủi ro về khả năng tái đầu tư: muốn phát triển bền vững, quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp phải diễn ra liên tục, vòng sau phải cao hơn vòng trước. Đó chính là quá trình tái đầu tư. Nguồn vốn để tái đầu tư là quỹ khấu hao, lợi nhuận thu được từ quá trình sản xuất kinh doanh trước đó.
Khi lạm phát xẩy ra, nguồn vốn để tái đầu tư bị giảm đi, thậm chí là một số âm. Do đó, khả năng tái đầu tư bị triệt tiêu, doanh nghiệp sẽ không thể hoạt động liên tục, quy mô kinh doanh bị thu hẹp. Nếu điều đó xảy ra trong một thời gian dài, doanh nghiệp có thể sẽ biến mất trên thị trường. Với những doanh nghiệp đang thực hiện các dự án đầu tư lạm phát có thể làm cho dự án đầu tư phải dừng lại thậm chí là "nằm chờ vĩnh viễn" do tổng mức đầu tư tăng đột biến, lãi suất tiền vay tăng cao, việc vay vốn bị chặn lại.
Tóm lại, ý tưởng nền tảng của quản trị rủi ro tài chính là tối thiểu hóa thiệt hại và tối đa hóa lợi nhuận. Quản trị rủi ro tài chính sử dụng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều công cụ và kỷ thuật, bao gồm bảo hiểm, chuyển giao rủi ro, giảm thiểu rủi ro để kiểm sóat sự đa dạng của rủi ro. Ảnh hưởng mô hình 10 nhân tố đến rủi ro, rủi ro tài chính trong họat động sản xuất kinh doanh - Tòan cầu hóa. Thế giới không biên giới nơi mà mọi thứ như lời nhắn, dữ liệu và thông tin, sản phẩm, con người, vốn, hình ảnh, ý tưởng, lãng phí, ô nhiễm được chuyển giao trong thời gian rất ngắn hơn bao giờ hết.
Tòan cầu hóa có thể thấy thông qua nhượng quyền của McDonald khắp thế giới, sự hiện diện của HSBC ở nhiều nước và hơn thế nữa. Đặc biệt, cuộc cách mạng của internet cung cấp đường vận chuyển và hệ thống phân phối hiệu quả qua nhiều quốc gia và thu hẹp khỏang cách vật chất và phi vật chất giữa các nước. Cuối cùng, tòan cầu hóa bản thân nó mang nhiều rủi ro và cơ hội. Nó cung cấp phạm vi lớn những cơ hội kinh doanh mới đồng thời đặt ra nhiều thử thách lớn cho những nhà quản lý rủi ro khi tham gia kinh doanh tòan cầu.
Tận dụng những thuận lợi của hiện tượng này, quản trị rủi ro đòi hỏi tập trung viễn cảnh tòan cầu hơn chỉ ở một quốc gia. Nói cách khác, họat động quản trị rủi ro công ty đa quốc gia nên được củng cố và trọng tâm hơn chia ra giữa các chi nhánh. Người ta tin rằng trong giai đọan tòan cầu hóa chỉ đáp lại tầm quan trọng tòan cầu hóa mới có thể giảm và nắm bắt cơ hội cho sự thay đổi. - Sự phức tạp.
Hệ thống tòan cầu ngày càng phức tạp và năng động. Sự tăng nhanh các sản phẩm và dịch vụ có thể được thấy cả về số lượng và chất lượng. Mạng lưới các đối thủ, khách hàng, nhà cung cấp, nhà phân phối, chủ sở hữu và nhà quản lý luôn luôn thay đổi và ngày càng phức tạp. Sự phức tạp đặt ra việc quản trị rủi ro tài chính cả về cơ hội và thách thức.
Nó dẫn đến khả năng cao những cơ hội tăng trưởng và trong lúc đó cũng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vạch trần điều có thể thật về sự thất bại. Bởi do sự xóa bỏ những nguyên tắc cho sự phát triển nhanh của hệ thống tài chính và ngân hàng tòan cầu những thập niên qua. Các thị trường mới nổi xuất hiện những cơ hội đầu tư quan trọng và thu hút dòng vốn nước ngòai lớn. Tuy nhiên, thế giới cũng trải qua nhiều sự kiện không mong đợi như cuộc khủng hỏang tài chính châu Á năm 1997 đã gây ảnh hưởng rất lớn đến các ngân hàng, quỹ tài chính và hơn thế nữa.
Nhà quản trị rủi ro cần phải xây dựng quá trình quản trị rủi ro đơn giản và rõ ràng để thông tin và hướng dẫn cho tất cả nhân viên. Quá trình quản trị rủi ro được yêu cầu phải được đánh giá thường xuyên và được điều chỉnh phù hợp với sự phức tạp đang thay đổi ngày càng nhanh chóng. - Sự bất ổn. Sự bất ổn thường liên quan đến sự thay đổi lớn về vị trí và sự thực hiện của các thành phần cấu thành trong hệ thống.
Ở khía cạnh kinh doanh, sự bất ổn thường xảy ra ở các sự kiện do sự thay đổi đáng kể về qui định, ban lãnh đạo, tính chất tự nhiên của sản phẩm và dịch vụ hoặc hệ thống kinh doanh. Ví dụ, ban lãnh đạo mới sau khi sát nhập hoặc chiếm được việc kinh doanh có thể tạo ra giá trị gia tăng cho cổ đông hoặc hủy họai vị trí công ty đã có trước đó kể từ khi việc quản trị mới có thể tái cấu trúc lại việc kinh doanh được sát nhập và tạo lập chiến lược kinh doanh mới có thể gây ảnh hưởng cổ đông đang nắm giữ cổ phần tốt hoặc xấu.