CHƯƠNG I: TONG QUAN VE KHẢ NANG KHAI THÁC VA SỬ DỤNG CAC DANG NANG Ở VIỆT NAM 1. KHẢ G CUNG CAP NANG LƯỢNG Ở VIỆT NAM. Khả năng khai thác than Tổng trữ lượng than đã tìm kiếm thăm dò còn lại đến 1/1/2002 theo Tổng so đồ phát tiễn ngành than giai đoạn 2001-2010 cổ xét tới 2020 là 3.880 triệu tắn Trong dé phần tt lượng do Tổng công ty than Việt Nam quản ý l 3.414 trigu tắn, của cúc ngành, địa phương là 394. Trong tổng trữ lượng, than anthracite là 3.238 triệu tắn chiếm 85%, Côn lạ là các loại than nâu, than mỡ và than bùn.
Trữ lượng than tập trung chủ yếu tại Quảng Ninh, Đông Bắc Việt Nam. Tổng 3 vùng mỏ ở đây có trữ lượng chiếm 83% trữ lượng than toin quốc. Sản lượng than khai thác bàng năm ở đây chiếm 90% sản lượng than khai thác toàn ngành than "Ngoài m6 than Quảng Ninh còn nhiều mò than khai thúc rải rắc nhiều th: ai Phong, Bắc Giang, Thái Nguyên, Sơn La. với sản lượng khai thác đại từ 1 - 1.3 triệu tắn năm, "Ngoài ra da phát hign ting Neogen ving tring Hà Nội có 14 via than nâu.
Các via than tập trung chủ yêu ở dai Khoái Châu - Tiền Hải. Diện tích toàn vùng 22.000km trong đồ đái Khoái Châu - Tiễn Hai 11.00km® Các kết quả khảo sắt, tìm kiế thăm đồ sơ bộ cho thấy tiêm năng than nâu ở vùng này rất lớn, trừ lượng dự báo gần 37 tý tấn. Tuy nhí dling quan tâm hơn cả là phần tải nguyễn én độ sâu 500m với tữ lượng dự báo khoảng 3-5 tỷ tin. Riêng khu vực Khodi Châu - Đình Minh trừ lượng thâm dò tới mức âm (2) 450m là 166 triệu tin, Hiện tại ngành than đang nghiên cứu đánh giá khả năng khai thie va sử dụng than khu vực này.
© Việt Nam, việc khai thác than bùn làm chất đốt sinh hoạt và phân bón ở phạm vi quy mô nhỏ, khai thác thủ công, sim lượng khai thác từ 70-80. Việc khai thác than bùn ở quy mô lớn thường sặp vẫn đề 6 nhiễm môi trưởng. Dự báo trữ lượng than bùn của Việt Nam có khoảng 7.100 triệu m’, trong đó đồng bằng Nam Bộ là lớn nhất (6. Đầu khí Theo đánh giá gần đây nhất tính đến năm 2002 tổng trữ lượng đầu khí có thể thu hồi ở nước ta vào khoảng 3,7 tỷ m’ dầu qui đồi (m’ OE), tập trung chủ yếu ở thêm lục dja, Trong đồ rữ lượng đã phát hiện có th thu hồi khoảng 1,251 tỷ m” với tỷ lệ khí đốt chiếm hơn 50%.
Tổng hợp trữ lượng dầu khí như trong bảng sau: Bang 1.1 Tiềm năng khai thác dầu khí TT Danh mục “Tổng (hiệu m` qui dầu) I Tông trữ lượng va tiém năng dầu khí 3.750 T Trữ lượng đã pháthiện cổ thể thuh 1251 Tiềm năng chưa phít hiện.535 - Debio 964 II Sản lượng đã khai thác 1414 TH Trĩ lượng còn li có thể khai thác 11096 ‘Cie mỏ dầu và khí được phát hiện phân bố không đều. Các mỏ dẫu tập trung chủ ở bê Cửu Long (Thém lục địa phía Đông Nam). Các mỏ khi tự nhiên được phát hiện phân tán ở các bể Nam Côn Sơn, Malay-Thé Chu và Sông Hồng. So với các nước trong khu vục Dông Nam A, tiểm ning dẫu khí của Việt Nam được đánh giá ở mức trung bình, thấp hơn Indénéxia và Malaysia nhưng cao hơn các nước còn lại Theo chiến lược phát triển đầu khí, sản lượng khai thie trung bình dẫu thô trong nước khoảng 16-18 triệu tắn/ năm vả sản lượng dau thô khai thác từ nước.
ngoài khoảng 2-3 triệu tắnnăm trong giai đoạn hiện nay và giữ định mức này, trong giai đoạn tới 2020, trong đó mức khai thác trong nước sẽ giảm di ở giai đoạn. sau năm 2020 và tăng dần mức khai thác từ nước ngoài Dy báo khả năng khai thác đầu thô giai doạn từ nay đến năm 2020 như sau: Bang 1.2: Dự báo khả năng khai thúc đầu mỏ (2000 ~ 2020) Năm 2000 | 2005 | 2010 | 2015 | 2020 PA co sở (10° tấn) 165 | 172 | 206 | 161 | 107 “Trong đó nội đị chiếm 165 17 | 176 | 123 | 47 PA cáo (10%) 165 | 178 | 216 | 218 18 Trong đồ nội địa chiếm 165 1701) 176 | 155. 102 Dự bo khả ning khai thác khí đốt giá đoạn từ nay đến 2020 Băng 1.3: Dự báo khã năng khai thắc khí dt (2000-2020) Năm 2000 | 2005 | 2010 | 2015 | 2030 PA cơ sở (tỷ m) 1. Năng lượng sóng và triều Do đặc điểm phức tap ;hế tạo các thiết bị tạo và biển đôi năng lượng biển thành các nguồn năng lượng khắc nói chung và điện năng nổi riêng nền việc sử dụng nguồn năng lượng tá tạo trên biển vào thực tế ở Việt Nam vẫn côn đang ở giai đoạn nghiên cửu đánh gid tiềm năng.
Năm 2000, Cục Hàng hải đã đặt mua bộ may phát điện bằng năng lượng sóng (Model TGW-3A-vave activated generator) với giá 2.917USD của Nhật Bản và lip đặt thiết bị này để chạy đèn tín hiệu báo lưỗng ra vào cảng tại phao số "0° tại cảng Cia Lò. Cho đến nay, thiết bị này đang hoại động tốt, đạt hiệu quả rat cao trong các điều kiện thời tiết nguy hiểm. Nguyên nhân chính. gây hạn chế việc sử dụng các nguồn năng sống biển so với các nguồn năng lượng tái tạo khác như năng lượng mặt trời, năng lượng gió là việc chế tạo các thiết bị phức tạp hơn, do vậy gi thành các may phát điện cao hơn nhiều lẫn (giá bộ máy phát điện bằng năng lượng sóng nêu trên cao hơn Š lần so với giá giản pin mặt trời trang bị cho các phao iu), Tuy nha, tử thực tỄ sử dung cho thiy trong các điều kiện thời tit gio mùa đông b „ cổ sương mi các giản pin mặt trời thường im việc kém hiệu qu.
Trong khi đó, các động cơ phát điện bằng năng lượng sóng lại có thé làm việc suốt ngày đêm trong mọi điều kiện vẺ thời tiết, Một trong các kết quả nghiên cứu khoa học về sử dụng năng lượng sống ở nước ta là đ tài nghiên cứu cấp Bộ (shiên cứu sử dụng năng lượng sóng biển làm. "nguồn chiếu sing phao tin hiệu hoạt động ngoài khơi biển Việt Nam”. Để ti được thực hiện trong năm 2000, 2001 do Bộ Giao Thông Vận Tải là cơ quan chủ quản và Viện Khoa Học Công Nghệ Giao Thông Vận Tải li cơ quan chủ trì với sự hợp tác của Khoa môi trường, Đại học quốc gia Hà Nội và cục Hàng Hải Việt Nam. Kết quả của để tai là đã chứng minh được khả năng sử dụng năng lượng sóng để tạo ra nguồn điện thấp sáng đèn trên phao tín hiệu và chế tạo thử nghiệm được một mô.
"hình hệ thống thiết bị phát điện bằng năng lượng sóng biễn. Năng lượng gió Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dai, Việt Nam có một thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gid. So sánh tốc độ gió trung bình trong vũng biển Đông Việt Nam và các vùng biển lan cận cho thấy gió tại biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiễu theo mùa. “Trong chương trình đánh giá vé năng lượng cho Châu A, Ngân hàng Thế giới đã có một khảo sát chỉ tiết về năng lượng gió khu vực Đông Nam A, trong đó Việt Nam cỏ iềm năng giỏ lớn nhất với tổng tiềm năng điện giỏ của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo cia ngành điện vào năm 2020.
Tắt nhiên, để chuyển tử tểm năng lý thuyt hành ăng có thể Kha thác, đến tiềm năng kỹ thật, và cuối cũng, thành tiềm năng kinh tế à cả một câu chuyện dài; nhưng điều đó không ngăn cản việc chúng ta xem xét một cách thấu đáo tiêm năng to lớn về năng lượng gid ở Việt Nam. Ở Việt Nam, các khu vục có thể phát triển năng lượng gió Không trải đều tiên toàn bộ lãnh thổ. Với ảnh hưởng của gió mùa thi cl i cũng Khác nhau, Nếu ở phía bắc đèo Hai Vân thi mùa gió mạnh chủ yếu tring với mùa gió đông bắc, trong đó các khu vực giàu tiêm năng nhất là Quảng Ninh. Quảng Bình, và Quảng Trị, Ở phần phía Nam déo Hai Va „ mùa gió mạnh trùng với mủa gió Tây Nam, và các vùng tiểm năng nhất thuộc cao nguyên Tây Nguyên, các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long, và đặc biệt là khu vực ven biển của hai tinh Bình Thuận, Ninh Thuận.
Theo nghiên cứu của NHTG, trên lãnh thé Việt Nam, hai vùi năng nhất để phát triển năng lượng gió là Sơn Hải (Ninh Thuận) và vùng đôi cát ở. độ cao 60-100m phía tây Him Tiền đến Mũi Né (Bình Thuận). Gió ving này không những có vận tốc trung bình lớn, mà còn có một thuận lợi khác, đó là số lượng các. cơn bão khu vu và gi6 có xu thể ôn định.
Đây là những điều kiện rt thuận lợi để phát triển năng lượng gió. Trong những tháng có gió mùa, ty lệ gié nam và đông nam lên đến 98% với vận tốc trung bình 6-7m/s, tức là vận tốc có thể xây dựng các trạm diện gió công suất 3 - 3,5 MW. Thực tế là người dân khu vực Ninh Thuận cũng đã tự chế tạo một số máy phát điện gió cở nhỏ nhằm mục đích thấp sáng. Ở cả hai khu vực này dân cư thưa thớt, thời tiết khô nóng, khắc nghiệt, v là những vũng dân tộc đặc biệt khô khăn của Việt Nam.
Mặc đủ có nhiều thuận lợi như đã nêu trên, nhưng ching ta cần phải lơ ý một số điểm đặc thi của năng lượng giỏ để có thé phát triển nó một cách có hiệu quả nhất. Nhược điểm lớn nhất của năng lượng gió là sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và chế độ gió. Vi vậy khi tht kế, cần nghiên cứu hết sức ch tết về chế độ gi, địa hình cũng như loại gió không có các dòng r (có ảnh hưởng không tốt đến mấy phil). Căng vĩ những lý do có tính phụ thuộc vào điều kiện môi trường như trên, năng lượng gió tuy ngày cảng phổ biến và quan trọng nhưng không thé là nguồn năng lượng chủ lực.
Tuy nhiên, khả năng kết hợp giữa điện gió và thủy điện tích năng lại mở ra cơ hội cho Việt Nam, một mặt da dang hóa được nguồn năng lượng trong đó kết hợp những nguồn năng truyền thống với những nguồn lượng tái tạo sạch với chỉ phí hợp lý; mặt khác khai thác được thể mạnh, đồng thời hạn chế của mỗi nguồn năng lượng, và tận dụng các nguồn năng lượng này trong mỗi quan hệ bd sung lẫn nhau.