CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN CẢNG HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ CẦN THƠ VÀ CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CỌC ĐẤT GIA CỐ XI MĂNG I.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÍ Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên 1.401,6 km2, bên bờ tây sông Hậu, cách biển Đông 75 km, cách thủ đô Hà Nội 1.877 km và cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km về phía bắc (theo đường bộ). Phía bắc giáp tỉnh An Giang và Đồng Tháp, phía nam giáp tỉnh Hậu Giang, phía tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp. ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG - THỦY VĂN- ĐỊA HÌNH- ĐỊA CHẤT I. Đặc điểm khí tượng Tài liệu khí tượng trog khu vực dự án được tính theo trạm Cần Thơ.
Vị trí trạm ở 10020’ vĩ Bắc, 105047’ kinh Đông. Độ cao của trạm +3,00m. Nhiệt độ không khí tối cao (00C), (xem phụ lục Bảng I.60 Nhiệt độ không khí tối thấp (00C), (xem phụ lục Bảng I.60 Chuyên ngành xây dựng đường ô tô và đường thành phố Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 16 GVHD: T.S Lê Văn Bách Lượng mưa:, (xem phụ lục Bảng I.1) + Lượng mưa trung bình tháng và năm Rmm. + Lượng mưa lớn nhất ngày và năm Rxmm + Số ngày mưa trung bình tháng và năm N I.
Đặc điểm thủy văn Các sông rạch ở khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy văn sông Hậu (ảnh hưởng của chế độ lũ và triều). tại Cần Thơ biên độ triều Hmax = 2.5m, biên độ triều trung bình Htb = 1.96m và biên độ triều Hmin = 0. Chế độ thủy văn tại Cần Thơ chịu ảnh hưởng của thủy triều Biển Đông, chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày có hai lần triều lên xuống. + Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm.
+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Theo số liệu của dự án Đường Mậu Thân –Sân bay Trà Nóc, do Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Cầu lớn - Hầm thực hiện tháng 3/2007. Kết quả tính toán thủy văn Cầu rạch Chanh (cách vị trí công trình khoảng 2Km) như sau: (xem phụ lục Bảng II.2) Địa chất thủy văn: kết quả khảo sát thăm dò và đo các mực nước ngầm tại các lỗ khoan địa chất cho thấy mực nước ngầm xuất hiện ở độ sâu từ 1. Nước ngầm trong khu vực khảo sát tích trữ và lưu thông chủ Chuyên ngành xây dựng đường ô tô và đường thành phố Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 17 GVHD: T.S Lê Văn Bách yếu ở lớp cát đắp bên trên và mực nước ngầm ở đây phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện khí tượng thủy văn, nước mưa, nước mặt.
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH Cần Thơ có cao độ trung bình phổ biến từ 0,2-1m so với mặt nước biển, chiếm hơn 90% diện tích, những nơi có độ cao 1,5-1,8m rất ít, chiếm dưới 10% diện tích so với mặt nước biển. Ðịa hình tỉnh Cần Thơ thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây, có dạng lòng chảo. Nằm ở khu vực bồi tụ phù sa nhiều năm của sông Mê Kông, có địa hình rất đặc trưng cho dạng địa hình đồng bằng. Nơi đây có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt.
Trong đó: Sông Hậu là con sông lớn nhất với tổng chiều dài chảy qua thành phố là 65 km, sông Cái Lớn dài 20 km, sông Cần Thơ dài 16 km, đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều. Bên cạnh đó, Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch nhỏ dày đặc, cho nước ngọt suốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thuỷ lợi và cải tạo đất. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH Theo hồ sơ báo cáo khảo sát địa chất tại Cảng hàng không Quốc tế Cần Thơ, có thể chia địa tầng các lớp địa chất thành các lớp theo thứ tự từ trên xuống dưới như sau: Lớp A _ lớp cát đắp: Chuyên ngành xây dựng đường ô tô và đường thành phố Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 18 GVHD: T.S Lê Văn Bách Lớp cát san lấp xuất hiện tại tất cả các lỗ khoan, chiều dày thay đổi từ (1. Lớp 1 : Lớp sét màu xám xanh, độ dẻo cao trạng thái rất mềm.
lớp này nằm dưới lớp cát đắp, chiều dày thay đổi từ (6. Các chỉ tiêu cơ lý cơ bản của lớp này như sau:: o Độ ẩm W (%) : 68.9 o Dung trọng ướt w (g/cm3) : 1.527 o Dung trọng đẩy nổi sub (g/cm3) : 0.556 o Hệ số rỗng (eo) : 1.90 o Giới hạn chảy WI (%) : 55.2 o Giới hạn dẻo Wp (%) : 55.5 o Chỉ số dẻo Ip : 29.097 Lớp 2: Lớp sét pha màu xám đen, độ dẻo trung bình trạng thái rất mềm. Chiều dày lớp thay đổi (6.70)m Chuyên ngành xây dựng đường ô tô và đường thành phố Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 19 GVHD: T.S Lê Văn Bách Các chỉ tiêu cơ lý cơ bản của lớp này như sau: o Độ ẩm W (%) : 42.5 o Dung trọng ướt w (g/cm3) : 1.692 o Dung trọng đẩy nổi sub (g/cm3) : 0.738 o Hệ số rỗng (eo) : 1.21 o Giới hạn chảy WI (%) : 38.6 o Giới hạn dẻo Wp (%) : 19.0 o Chỉ số dẻo Ip : 19.102 Lớp 3A: Lớp sét màu xám nâu, độ dẻo cao, trạng thái dẻo mềm. Xuất hiện ở lỗ khoan LK9.
Chiều dày lớp 5. Các chỉ tiêu cơ lý cơ bản của lớp này như sau: o Độ ẩm W (%) : 36.4 o Dung trọng ướt w (g/cm3) : 1.821 o Dung trọng đẩy nổi sub (g/cm3) : 0.839 o Hệ số rỗng (eo) : 1.00 Chuyên ngành xây dựng đường ô tô và đường thành phố Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 20 GVHD: T.S Lê Văn Bách o Giới hạn chảy WI (%) : 52.3 o Giới hạn dẻo Wp (%) : 23.8 o Chỉ số dẻo Ip : 28.127 Lớp 3 Sét màu xám nâu, độ dẻo cao, trạng thái rất mềm. xuất hiện ở tất cả các lỗ khoan. Chiều dày thay đổi từ (4.
Các chỉ tiêu cơ lý cơ bản của lớp này như sau: o Độ ẩm W (%) : 53.3 o Dung trọng ướt w (g/cm3) : 1.614 o Dung trọng đẩy nổi sub (g/cm3) : 0.65 o Hệ số rỗng (eo) : 1.50 o Giới hạn chảy WI (%) : 50.9 o Giới hạn dẻo Wp (%) : 23.6 o Chỉ số dẻo Ip : 27.102 Chuyên ngành xây dựng đường ô tô và đường thành phố Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 21 GVHD: T.S Lê Văn Bách Lớp 4A Sét màu xám xanh, độ dẻo cao, trạng thái dẻo mềm. xuất hiện ở các lỗ khoan LK2;LK4 và LK9. Chiều dày thay đổi từ (4. Các chỉ tiêu cơ lý cơ bản của lớp này như sau: o Độ ẩm W (%) : 32.1 o Dung trọng ướt w (g/cm3) : 1.863 o Dung trọng đẩy nổi sub (g/cm3) : 0.884 o Hệ số rỗng (eo) : 0.90 o Giới hạn chảy WI (%) : 52.6 o Giới hạn dẻo Wp (%) : 24.6 o Chỉ số dẻo Ip : 28.141 Lớp 4B Sét màu xám xanh, độ dẻo cao, trạng thái rắn, lớp này có bề dày từ 2 ÷ 7.50m phân bố ở các lỗ khoan có độ sâu >40m.
Các chỉ tiêu cơ lý cơ bản của lớp này như sau: o Độ ẩm W (%) : 24.7 Chuyên ngành xây dựng đường ô tô và đường thành phố Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 22 GVHD: T.S Lê Văn Bách o Dung trọng ướt w (g/cm3) : 1.959 o Dung trọng đẩy nổi sub (g/cm3) : 0.986 o Hệ số rỗng (eo) : 0.71 o Giới hạn chảy WI (%) : 50.8 o Giới hạn dẻo Wp (%) : 23.4 o Chỉ số dẻo Ip : 27.288 Lớp 5 Sét màu nâu đỏ, trạng thái rất rắn, lớp này có chiều dày từ 9÷17.8m, phấn bố ở các lỗ khoan có độ sâu >40m. lớp này có hệ số rỗng nhỏ, tính nén lún thấp. công trình có thể đặt móng lên lớp này. Các chỉ tiêu cơ lý cơ bản của lớp này như sau: o Độ ẩm W (%) : 23.1 o Dung trọng ướt w (g/cm3) : 1.978 o Dung trọng đẩy nổi sub (g/cm3) : 1.012 o Hệ số rỗng (eo) : 0.67 o Giới hạn chảy WI (%) : 55.0 o Giới hạn dẻo Wp (%) : 25.4 Chuyên ngành xây dựng đường ô tô và đường thành phố Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 23 GVHD: T.S Lê Văn Bách o Chỉ số dẻo Ip : 29.347 Mực nước ngầm: Mực nước ngầm ở lỗ khoan như sau: +1.0m Với đặc điểm phân bố địa tầng và các đặc trưng cơ - lý của các lớp đất như trên có thể nêu một số nhận xét sau: - Dưới đất lớp mặt có tính chất cơ lý không ổn định là lớp bùn yếu, do đó nền đường, sân cần quan tâm vấn đề lún do lớp bùn và lớp mặt khi đắp gây nên.
- Đối với công trình có tải trọng nên sử dụng các loại móng cọc đặt vào lớp 5. CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CỌC ĐẤT GIA CỐ XI MĂNG a). Trên thế giới - Nước ứng dụng công nghệ xi măng đất nhiều nhất là Nhật Bản và các nước vùng Scandinaver. Theo thống kê của hiệp hội CDM (Nhật Bản), tính chung trong giai đoạn 80-96 có 2345 dự án, sử dụng 26 triệu m3 BTĐ.
Riêng từ 1977 đến 1993, lượng đất gia cố bằng xi măng ở Nhật vào khoảng 23,6 triệu m3 cho các dự án ngoài biển và Chuyên ngành xây dựng đường ô tô và đường thành phố Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 24 GVHD: T.S Lê Văn Bách trong đất liền, với khoảng 300 dự án. Hiện nay hàng năm thi công khoảng 2 triệu m3. - Tại Trung Quốc, công tác nghiên cứu bắt đầu từ năm 1970, tổng khối lượng xử lý bằng cọc đất gia cố xi măng ở Trung Quốc cho đến nay vào khoảng trên 1 triệu m3. Tại Châu Âu, nghiên cứu và ứng dụng bắt đầu ở Thụy Điển và Phần Lan bắt đầu từ năm 1967.
Năm 1974, một đê đất thử nghiệm (6m cao 8m dài) đã được xây dựng ở Phần Lan sử dụng cột vôi đất, nhằm mục đích phân tích hiệu quả của hình dạng và chiều dài cột về mặt khả năng chịu tải.1 Xử lý sự cố nền công trình nhà ở Đài Bắc - Đài Loan Chuyên ngành xây dựng đường ô tô và đường thành phố Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 25 GVHD: T.S Lê Văn Bách Hình I. Xử lý nền ga tàu điện ở trung tâm Cai Ro - Ai Cập b). Tại Việt Nam - Việt nam (IBST) là người đầu tiên đưa chất gia cố là xi măng vào (khởi thuỷ của phương pháp là cột vôi), điều này được khẳng định trong hội nghị gia cố sâu tổ chức tại Stockholm 2001.