Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu động cơ 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu động cơ ở nước ngoài Động cơ là một hiện tượng tâm lý phức tạp, có vị trí rất quan trọng trong cấu trúc nhân cách của con người. Freud (1856- 1939) bác sĩ tâm thần người Áo, đại diện tiêu biểu của trường phái Phân tâm học đã tuyệt đối hoá vai trò của yếu tố bản năng, coi đó là động cơ cơ bản của hành vi con người. Freud đã khẳng định “libido” là căn nguyên cội nguồn của mọi hành vi con người, ông khẳng định yếu tố bản năng, mà trước hết bản năng tính dục là cội nguồn căn bản nhất thúc đẩy mọi hoạt động của con người.
Ông cũng cho rằng: Trong đời sống tâm lý con người, không phải hành vi ý thức là chủ yếu và cơ bản nhất mà hành vi vô thức mới chiếm vị trí trung tâm và có vai trò quyết định đến đời sống tâm lý con người. Ông đã dùng hình ảnh tảng băng trôi để ví hai tầng bậc ý thức và vô thức của đời sống tâm lí con người, phần nổi trên mặt nước (có thể nhìn thấy chiếm phần rất nhỏ của toàn bộ tảng băng) là phần ý thức, phần chìm trong nước là phần lớn nhất quy định trọng tâm, phương hướng chuyển động của toàn bộ tảng băng trôi được ông ví là tầng vô thức [12, tr.Adler (đại diện cho trường phái phân tâm mới) lại cho rằng yếu tố cơ bản thúc đẩy hành vi của con người, không phải là yếu tố bản năng tình dục như quan niệm của trường phái Phân tâm học cổ điển mà là yếu tố quyền lực. Nếu Phân tâm học cổ điển miêu tả con người như nạn nhân của bản năng, buộc phải chịu đựng những điều bất hạnh của sức mạnh sinh học và những trải nghiệm thời thơ ấu như một định mệnh, thì A.Adler coi cá nhân trước hết là một thực thể xã hội có ý thức chứ không phải vô thức, ý thức nằm ở cốt lõi của nhân cách, mỗi chúng ta tự tham gia tạo dựng nên chính bản thân chúng ta và định hướng cho tương lai một cách tích cực. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Adler động lực cơ bản của hành vi con người là ý chí quyền lực, ý chí hùng mạnh, nhưng đối với ông, ý chí quyền lực lại được coi như một năng lực bẩm sinh, một sức mạnh bản năng, nên quan niệm này về động lực hành vi con người không khác gì mấy so với quan niệm của Freud [12, tr.
Bên cạnh những quan điểm nêu trên, còn có những quan niệm khác nhau của Karen Honey, Erich Fromm về động cơ thúc đẩy hành vi con người, những quan điểm này đã chú ý tới sự ảnh hưởng xã hội đối với hành vi của con người, nhưng trong cách giải thích của họ, yếu tố bản năng vẫn được coi là yếu tố giữ vai trò chính đối với sự thúc đẩy hành vi của con người. Tóm lại, Phân tâm học đã xem xét vấn đề động cơ dưới góc độ sinh học thuần tuý mà chưa chú ý đầy đủ tới bản chất xã hội của nó, họ đặc biệt chú ý tới bản năng, nhất là bản năng tính dục là yếu tố cơ bản nhất thúc đẩy hành vi con người. Do đó, họ đã dành vai trò quyết định đời sống tâm lý con người cho vô thức, nên toàn bộ hệ thống động cơ của con người đều có bản chất là bản năng vô thức. Bandura là đại diện tiêu biểu của trường phái Tâm lý học Hành vi mới.
Ông không chỉ quan tâm tới những kích thích bên ngoài đang trực tiếp tác động vào con người mà còn đề cập đến yếu tố nhận thức của con người, phân tích những kích thích đó trước khi đưa ra một hành động đáp lại chúng một cách hợp lý. Ông còn cho rằng, những ý nghĩ về cái có thể có trong tương lai cũng có thể thúc đẩy con người hành động. Do đó trước khi hành động, nhận thức của mình giúp con người đặt ra được cho mình những mục tiêu để vươn tới. Mỗi khi hành động của mình đạt được mục tiêu đề ra hay thất bại trong khi thực hiện mục tiêu đó, con người thường thưởng hoặc phạt chính mình, nó trở thành phương pháp điều chỉnh hành vi của chính chúng ta.
Bên cạnh đó tác giả còn cho rằng: Hành vi của chính chúng ta trong quá khứ có thể 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trở thành điểm tham chiếu trong việc đánh giá hành vi hiện tại, đồng thời là động cơ thực hiện tốt những hoạt động trong tương lai. Ở đây tác giả đề cập đến tính hiệu quả của hành động, chính là phụ thuộc vào niềm tin cá nhân, vào bản thân mình có thể đạt được hay không đạt được mục tiêu đề ra, do đó đã hình thành ý thức về tính hiệu quả hoạt động của bản thân, ý thức đã tham gia vào sự lựa chọn hành vi và mức độ khó khăn trong khi thực hiện hành vi trong những tình huống nhất định [12, tr. Còn Gordon Allport- một đại diện nổi tiếng của trường phái Tâm lý học Nhân văn thì cho rằng, động cơ là vấn đề trung tâm của bất kì lý thuyết nhân cách nào. Theo Allport chỉ cái mà chúng ta muốn có trong tương lai và cái mà chúng ta nỗ lực muốn có ngay lúc này mới là những cái có ý nghĩa thúc đẩy (động cơ) hành vi của chúng ta, cái thuộc về quá khứ không có chức năng thúc đẩy động cơ.
Vậy động cơ thúc đẩy người lớn hoạt động không thể được hiểu thông qua phân tích những gì đã diễn ra thời thơ ấu, mà phải điều tra xem tại sao người đó đang cư xử như họ đang làm tại thời điểm hiện tại. Có nghĩa là động cơ của người lớn không có liên hệ về chức năng với những kinh nghiệm trước kia. Từ đó ông đưa ra quan niệm về tính tự trị của động cơ và cho đó là cơ chế làm nảy sinh động cơ mới [12, tr. Cùng với trường phái đó, Carl Roger thì đề cập tới khái niệm “khuynh hướng hiện thực hoá” là những gì được lập trình sẵn trong cấu trúc di truyền của mỗi người được hiểu là động cơ bản năng là những gì đã được tiền định từ trước bây giờ chỉ cần hiện thức hoá cái có sẵn đó ra ngoài, vậy động cơ bản năng của con người chỉ cần hiện thực hoá, duy trì củng cố cái tôi, con người bị thúc đẩy bởi một khuynh hướng bẩm sinh nhằm hiện thực hoá, bảo toàn và cải biến cái tôi.
Khuynh hướng hiện thực hoá bắt đầu từ trong trứng nước, bao gồm toàn bộ những nhu cầu về tâm- sinh lý, làm cho sự trưởng thành của con người được thuận lợi bằng cách cung cấp sự phân biệt các bộ phận của cơ thể 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và sự phát triển các chức năng tâm- sinh lý (sự phát triển đã được xác định về mặt di truyền, đã được lập trình trong cấu tạo di truyền của chúng ta). Theo Rogers, mặc dù những biến đổi như thế đã được quyết định về mặt di truyền song, quá trình tiến tới sự phát triển đầy đủ của con người vẫn không mang tính tự động, mà còn tuỳ thuộc vào sự tương tác của chủ thể với môi trường trên cơ sở nhận thức của nó về môi trường. Các tác giả trên đều coi động cơ con người là vấn đề trung tâm, tuy nhiên giữa các tác giả lại có quan điểm rất khác nhau khi bàn về nội hàm của khái niệm động cơ. Quan điểm thứ nhất lý giải bản chất động cơ con người theo hướng sinh vật hoá.
Những người theo quan điểm này cho rằng, bản năng sẵn có từ khi con người mới sinh là động lực thúc đẩy (động cơ) mọi hoạt động của con người. Do đó theo họ, về bản chất động cơ của con người mang tính vô thức (S. Quan điểm thứ hai, một mặt thừa nhận nhu cầu và động cơ của con người là bẩm sinh, có bản chất sinh học, mặt khác lại cho rằng trước khi hành động, nhận thức của con người giúp họ đặt ra những mục tiêu để vươn tới (Bandura), con người có khả năng nhận thức những tác động đến từ môi trường; có khả năng lựa chọn cách tốt nhất để thoả mãn, hiện thực hoá nhu cầu và động cơ của mình (Roger, Allport,…). Nói cách khác, theo họ sự hình thành động cơ hoạt động của con người diễn ra một cách có ý thức trên nền tảng bền vững của bẩm sinh và di truyền.
Điều đó có nghĩa là di truyền và bẩm sinh vẫn là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển động cơ con người. Khác với quan điểm trên, vấn đề động cơ trong tâm lý học hoạt động được giải quyết trên cơ sở các luận điểm trong triết học của C.Mác và Enghen về vấn đề bản chất con người và động lực thúc đẩy hoạt động của con người. Các nhà tâm lý học hoạt động cho rằng: Nghiên cứu động cơ con người phải xuất phát từ hoạt động thực tiễn của cá nhân trong những điều kiện xã hội lịch 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sử nhất định. Trong Luận văn này, chúng tôi tán thành và sử dụng quan điểm của Tâm lý học hoạt động về động cơ.Rubinstine coi động cơ xuất phát từ nhu cầu và nhiệm vụ của cuộc sống có tính chất thứ bậc.
Động cơ là sự quy định về mặt chủ quan hành vi của con người. Sự quy định này được thực hiện gián tiếp bằng quá trình phản ánh thế giới đó, thông qua động cơ con người liên kết với bối cảnh hiện thực. Ông chỉ ra hai khuynh hướng động cơ là khuynh hướng động cơ nghĩa vụ và khuynh hướng động cơ ham thích. Đồng thời nhấn mạnh động cơ là đặc trưng chủ yếu của tâm lý con người, thúc đẩy và điều khiển mọi hoạt động của con người.Leonchiev nhấn mạnh nhân cách là kết quả của quá trình tác động qua lại lẫn nhau của nhiều hoạt động khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ và được sắp xếp theo thứ bậc, nhân cách được bộc lộ ra như là một tổng hoà các mối quan hệ có thứ bậc của các hoạt động, mỗi một hoạt động có thể được thúc đẩy bởi nhiều động cơ khác nhau, trong quá trình tác động qua lại của nhiều hoạt động khác nhau đã làm xuất hiện hiện tượng phân đôi chức năng giữa các động cơ của cùng một hoạt động thành một bên có chức năng tạo ý (đồng thời có chức năng thúc đẩy) và một bên chỉ là chức năng thúc đẩy, không có chức năng tạo ý.