Chương 1: KÌM QUANG HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN 1.1 Quang lực Năm 1970, trong công trình lý thuyết của mình, A. Ashkin lần đầu tiên khẳng định có thể sử dụng áp suất bức xạ vùng ánh sáng để tăng tốc và giam giữ các hạt [1]. Xét trong vùng quang học, một phôtôn luôn có xung lượng: p = ℏk (1.s / rad là hằng số Planck, k là véc tơ sóng với số sóng k = 2π / λ. Giả sử rằng một chùm ánh sáng đơn sắc tuyệt đối gồm nhiều phô tôn có xung lượng như nhau chiếu vào một vi cầu, khi đó, một số phản xạ trên mặt, số còn lại sẽ khúc xạ hai lần giữa môi trường ngoài và vi cầu (Hình 1.1 Xung lượng và lực do phản xạ (a) và khúc xạ (b) của ánh sáng chiếu vào vi hạt có chiết suất lớn hơn chiết suất môi trường (nh>nm).
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Hướng lực tương ứng vị trí hạt tương đối với tiêu điểm. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Qua các quá trình đó, xung lượng của phô tôn bị thay đổi, lượng thay đổi đó sẽ truyền cho vi hạt [1]: (1.2) ∆p = pin − pout = Ph Sau khi nhận được xung lượng từ phô tôn, vi hạt có xung lượng Ph. Như vậy, vi hạt sẽ nhận được xung lượng từ hai quá trình trên. Theo định luật 2 Newton, nếu vi hạt nhận được xung lượng đó trong thời gian ∆t thì nó chịu một quang lực F = P / ∆t do đó, vi hạt trong Hình 1.1 sẽ bị tác động bởi hai lực, tán xạ (phản xạ trên vật có kích thước nhỏ hơn bước sóng laser) và khúc xạ xác định như sau: px Phpx kx Phkx F = ,F = (1.3) ∆t ∆t Kết quả vi cầu sẽ chuyển động theo hướng lực tổng hợp.
Nếu vi hạt được chiếu bởi một laser hội tụ, khi đó hướng lực do khúc xạ tác động lên vi hạt được sẽ thay đổi phụ thuộc vào vị trí của tâm hạt tương ứng với tiêu điểm như trên Hình 1.4) ∆t trong đó, N là số photon tác động lên vi hạt. Trong cả ba trường hợp, lực tổng hợp FT = Fa + Fb đều có hướng từ tâm hạt tới tiêu điểm. Điều này có nghĩa là vi hạt luôn luôn bị kéo vào tiêu điểm của một chùm laser, nếu tiêu điểm nằm trong không gian chiếm giữ của vi hạt. Trong trường hợp tiêu điểm không nằm trong không gian chiếm giữ của vi hạt, nhưng vi hạt vẫn bị chiếu bởi chùm laser thì quang lực vẫn tác động lên nó, tuy hướng lực tổng động phụ thuộc vào cường độ lực thành phần.
Hướng nào cường độ laser lớn, tức là mật độ phô tôn lớn, quang lực tác động lên vi hạt sẽ lớn. Tổng hợp lực của chùm tia có phân bố gradient cường độ gọi là lực gradient (Hình 1. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Lực gradient của chùm Gauss. Dựa vào hướng tương tác của các lực tác động lên vi hạt của các tia laser thành phần trong chùm laser đã trình bày trên, có thể khẳng định một chùm laser hội tụ mạnh có thể giam giữ vi hạt tại tiêu điểm.
Hay nói cách khác, một chùm tia có cường độ phân bố không gian theo hàm Gauss, hay gọi là chùm Gauss có thể bẫy vi hạt có tỉ số chiết suất m = nh / nm > 1 so với chiết suất môi trường xung quanh tại tâm thắt chùm, trường hợp ngược lại, một chùm laser hollow-Gauss có thể giữ vi hạt có tỉ số chiết suất m = nh / nm < 1 tại tâm (Hình 1. Như vậy, một chùm laser có gradient cường độ trong không gian sẽ tác động lên vi hạt hai lực, lực tán xạ hình thành do hiện tượng tán xạ tia sáng trên mặt vi hạt (trong trường hợp kích đường kính vi hạt lớn hơn bước sóng laser thì gọi là lực phản xạ) đẩy vi hạt chuyển động theo chiều truyền lan của laser và lực gradient hình thành do biến đổi cường độ ánh sáng trong không gian kéo vi hạt vào vùng có cường độ cao [10]. Độ lớn của các lực này phụ thuộc vào cấu hình chùm tia, thông số của vi hạt và môi trường. Dựa vào tương quan giữa bước sóng laser (λ) và bán kính của vi hạt (a), quang lực được xét trong các chế độ khác nhau.
Quang lực được xét trong chế độ quang hình nếu a > λ , Mie nếu a ∼ λ hay Rayleigh nếu a < λ với những sai số khác nhau. Trong chế độ Rayleigh, lực gradient dọc Fgrad , z và ngang Fgrad , ρ tác động lên vi hạt được xác định như sau [1]: Fgrad , z = σ∇ z I ; Fgrad , ρ = σ∇ ρ I (1.5) 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com m2 − 1 trong đó, I là cường độ laser, σ = 4π nm2 ε 0 a3 là hệ số phân cực của vi cầu, z m2 + 2 là tọa độ dọc trục chùm tia laser, ρ là tọa độ hướng tâm trên mặt cắt ngang của chùm tia laser. a: Chùm Gauss bẫy hạt với m>1; b: Chùm hollow- Gauss bẫy hạt với m<1 Lực tán xạ tác động lên vi cầu được xác định như sau: Fscat = β I (1.6) 2 128π 5 nm a 6 m 2 − 1 trong đó β = là hệ số tán xạ.2 Bẫy quang học Trên cơ sở các quang lực tác động lên vi hạt nhúng trong môi trường, cấu hình đơn giản nhất của bẫy quang học được trình bày như trên Hình 1.5 cho vi hạt có chiết suất lớn hơn chiết suất môi trường (m>1). Một chùm laser mode TEM00 được hội tụ mạnh bởi một vi thấu kính có khẩu độ số (NA) cao.
Khẩu độ số càng cao thì 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gradient cường độ sẽ lớn và cường độ mạnh nhất sẽ tập trung ở tiêu điểm và như vậy các lực gradient sẽ lớn. Việc chọn khẩu độ số cao cũng tương thích với tiêu cự của vi thấu kính sao cho tiêu điểm nằm trong môi trường chất lưu, trong đó có chứa vi hạt cần bẫy. Trong thực nghiệm nghiên cứu y, sinh học, thông thường chất lưu là một lớp mỏng, có độ dày tương đương đường kính vi hạt. Từ công thức (1.6), chúng ta thấy lực tán xạ nhỏ hơn nhiều so với lực gradient, do đó vi hạt luôn có xu thế được kéo vào tâm thắt chùm, hay kéo vào tâm bẫy.
Do các lực gradient đối xứng tâm, qua tâm kìm, nên vi hạt sẽ bị giam tại tâm.5 Cấu hình tối thiểu của bẫy quang học Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, lực gradient nhỏ do chùm tia hội tụ yếu do sử dụng vi thấu kính có khẩu độ số thấp (NA nhỏ), thì vi hạt sẽ bị đẩy theo chiều truyền lan của chùm laser và bị giam tại vị trí khi mà lực gradient dọc cân bằng với lực tán xạ. Trong thực tế, để loại trừ hiện tượng này, cấu hình bẫy quang học sử dụng hai chùm tia truyền lan ngược chiều đã được áp dụng [11]. Để ứng dụng trong nghiên cứu, mẫu tối thiểu trong Hình 1.5 được bổ sung thêm các chi tiết phụ: Thiết bị dò vi hạt ban đầu; Hệ mở rộng chùm tia, tăng khẩu độ số; Camera theo dõi quá trình dao động của vi hạt tại tâm kìm; Nguồn ánh sáng phụ (LED) soi vi hạt hoặc kích thích huỳnh quang của vi hạt. Cấu hình đầy đủ của kìm quang học trong thực nghiệm được thiết kế như trong Hình 1.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sơ đồ chi tiết cấu tạo bẫy quang học sử dụng một chùm laser trong thực nghiệm.1 KQH theo nguyên lý giao thoa kế Mach-Zehnder Với cấu hình như trong Hình 1.6, chúng ta thấy bẫy quang học chỉ có một chức năng duy nhất là giam giữ vi hạt tại tâm bẫy, phục vụ cho mục đích khảo sát tĩnh đối tượng cần nghiên cứu. Trong trường hợp khảo sát động, cần di chuyển vi hạt đến một vị trí khác trong không gian chất lưu thì cấu Hình 1.6 không thể sử dụng, do đó cấu hình linh động hơn được thiết kế và khái niệm kìm quang học ra đời. Đến nay đã có một số mẫu kìm quang học khác nhau được đặt tên dựa vào phương pháp điều khiển vết hội tụ của chùm laser.
Kìm quang học điều khiển một chiều (1D) sử dụng hiệu ứng giao thoa được McDonald và cộng sự đề xuất vào năm 2011. Chùm tia laser TEM00 trước khi đưa vào hệ vi thấu kính được chia thành hai chùm con nhờ bộ chia kiểu giao thoa kế Mach-Zehnder (Hình 1. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.7 Sơ đồ nguyên lý của IOT G-gương phản xạ 100%, L1, L2, L3 - thấu kính, BC - bản chia tia, GQ - gương lái tia,MZI-giao thoa kế Mach-Zehnder, GD-gương tinh chỉnh hiệu quang trình, VTK - vi thấu kính, BM- buồng chứa mẫu. Hai chùm tia này sẽ giao thoa với nhau trên tiêu diện của hệ vi thấu kính (VTK), tạo ra các vệt tối và sáng xen kẽ nhau trong buồng mẫu (BM).
Các vi hạt ứng với m>1nằm trên tiêu diện sẽ được giam ở vị trí có cường độ mạnh nhất của vệt sáng, còn các vi hạt ứng với m<1 sẽ được giam ở vị trí có cường độ yếu nhất của vệt tối (hình nhỏ trong hình 1. Bằng cách thay đổi hiệu quang trình trong hai nhánh của giao thoa kế, độ lớn và số lượng vệt sáng sẽ thay đổi. Như trên cấu hình hình 1.7, hai chùm sáng được lái vào hệ vi thấu kính dưới các góc nhờ gương quay (GQ), do đó các vệt sáng, tối sẽ dịch theo chiều vuông góc với vệt, khi đó các vi hạt được giam giữ bởi các vệt đó sẽ dịch theo. IOT có thể điều khiển hai loại vi hạt theo một chiều trong không gian (điều khiển 1D) nhờ gương quay điều khiển nhờ động cơ điện (động cơ bước tinh).
KQH theo nguyên lý khúc xạ quang- âm Dựa trên nguyên lý quét tia cơ học, kìm quang học điều khiển vi hạt 1D bằng thiết bị quang-âm đã được chế tạo. Khi sóng âm truyền qua lớp môi trường quang- âm mỏng thì nó trở thành cách tử Bragg. Ánh sáng qua lớp môi trường này sẽ khúc xạ ở các góc Bragg khác nhau, phụ thuộc vào tần số sóng âm. Như vậy, chùm tia laser khúc xạ sẽ được hệ vi thấu kính hội tụ vào các điểm khác nhau theo trục song song với trục truyền lan của sóng âm.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.