Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG GIÓ quan tâm và gởi cho Quốc hội để tiến đến việc tài trợ. Vào năm 1951 khi chiến tranh Triều Tiên đã bắt đầu thì Quốc hội đã quyết định không tài trợ cho các mẫu thử nghiệm. Dự án sau này đã bị hủy bỏ, điều này về cơ bản đánh dấu sự kết thúc nghiên cứu năng lượng gió của Mỹ trong hơn hai mươi năm cho đến khi việc cung cấp nhiên liệu thực sự trở thành một vấn đề. Các nước khác tiếp tục nghiên cứu điện gió trong một thời gian dài.
Đan Mạch xây dựng turbine gió Gedser của họ vào năm 1957. Máy này sản xuất 200 KW với lượng gió 15 m/s. Nó được kết nối với hệ thống điện công Đan Mạch và sản xuất khoảng 400. Tháp này cao 26 m và rotor có đường kính 24 m.
Máy phát điện được đặt tại nhà ở trên đỉnh tháp. Chi phí lắp đặt hệ thống này là khoảng 250$/KW. Tua bin gió này chạy mãi cho đến năm 1968 thì ngừng. Tiến sĩ Ulrich Hutter của Đức xây dựng một máy 100 KW vào năm 1957.
Nó đạt công suất của nó chỉ với tốc độ gió 8 m/s, thấp hơn nhiều so với các máy nói trên. Máy này sử dụng một cách gọn nhẹ với đường kính cánh quạt 35 m được làm từ sợi thủy tinh với cột tháp là một ống rỗng đơn giản hỗ trợ bằng dây guy. Góc của cánh quạt sẽ thay đổi tùy vào tốc độ gió để giữ vận tốc các cánh quạt không đổi. Tiến sĩ Hutter đã thu được hơn 4000 giờ hoạt động công suất định mức đầy đủ trong 11 năm tiếp theo, đây là một con số đáng kể cho một máy thử nghiệm.
Điều này đã đóng góp quan trọng cho việc thiết kế các tua-bin gió lớn hơn được thực hiện. 8 Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG GIÓ Hình 1.2: Lịch sử phát triển năng lượng gió từ 1996 đến 2008 [15] 1. Tình hình phát triển điện gió ở hiện tại và triển vọng trong tương lai. Theo báo cáo của World Wind Energy Association đến thời điểm giữa 2013 thì trên toàn thế giới Công suất gió đạt gần 300 gigawatt.
Trong đó 14 GW công suất lắp đặt mới trong nửa năm 2013 sau khi lắp đặt 16,5 GW vào năm 2012, công suất điện gió toàn cầu đã đạt 296 GW, dự kiến cho cả năm là 318 GW. Sụt giảm đáng kể ở Mỹ làm dẫn đến giảm toàn cầu, một phần bù đắp bằng thị trường mới, Trung Quốc đã đạt tổng công suất 80 GW [15].3: Tổng công suất lắp đặt từ 2010 – 2013 [MW] [15] 9 Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG GIÓ Công suất gió trên toàn thế giới đạt 296255 MW vào cuối tháng 6 năm 2013, trong đó 13980 MW đã được lắp đặt thêm vào trong sáu tháng đầu tiên năm 2013. Sự gia tăng này thì thấp hơn so với nữa năm đầu của năm 2012 và 2011, tương ứng 16,5 GW lắp đặt thêm trong 2012 và 18,4 GW đã được thêm vào trong 2011. Tất cả các turbine gió được lắp đặt trên toàn thế giới vào giữa năm 2013 có thể tạo ra khoảng 3,5% nhu cầu điện của thế giới [15].
Công suất gió toàn cầu đã tăng 5% trong vòng sáu tháng (sau khi 7% trong cùng thời kỳ trong năm 2012 và 9% trong năm 2011) và 16,6% hàng năm (giữa năm 2013 so với giữa năm 2012). Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng hàng năm trong năm 2012 là cao hơn đáng kể (19%) [15]. Đứng đầu về thị trường gió năm 2013 là: Trung Quốc, Đức, Ấn Độ và Vương quốc Anh [15].4: Tổng công suất lắp đặt của các nước [15] 10 Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG GIÓ Hình 1.5: Tỉ lệ phần trăm công suất lắp đặt mới ở các nước 2013 [15] Hình 1.6: Tổng công suất lắp đặt từ 1997 - 2020 [GW] về tình hình phát triển và dự đoán đến 2020 [15] Theo đánh giá hiện trạng công nghệ năng lượng gió ở Việt Nam, GS. Lê Danh Liên cho rằng lĩnh vực năng lượng gió ở nước ta chưa phát triển, chỉ mới 11 Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG GIÓ đang ở giai đoạn nghiên cứu ứng dụng.
Chỉ một số vùng có tiềm năng gió tốt để có thể ứng dụng các động cơ gió công suất trung bình và lớn. Bên cạnh đó, còn một số trở ngại chính cho tương lai phát triển điện gió như vẫn chưa có chính sách và các quy định mua điện gió; chi phí đầu tư cao hơn các hệ thống phát điện truyền thống vì thế không hấp dẫn các nhà đầu tư; vẫn còn thiếu các dịch vụ và khả năng tài chính để có thể vay từ ngân hàng cho việc phát triển điện gió; thiếu kiến thức và năng lực kỹ thuật để thực hiện dự án điện gió cũng như các kỹ thuật cơ bản và dịch vụ sau lắp đặt. Ngoài ra, chúng ta cũng chưa đủ nhận thức về công nghệ, chi phí, vận hành và chưa đủ các số liệu về gió để có sự quy hoạch tổng thể…. Những thuận lợi và khó khăn của việc sử dụng năng lượng gió a.
Những thuận lợi: Năng lượng gió là nhiên liệu sinh ra bởi gió, vì vậy nó là nguồn nhiên liệu sạch. Năng lượng gió không gây ô nhiễm không khí so với các nhà máy nhiệt điện dựa vào sự đốt cháy nhiên liệu than hoặc khí ga. Năng lượng gió thuộc lĩnh vực công nghiệp mũi nhọn nên được đặc biệt ưu đãi. Được sự hỗ trợ của nhiều cơ quan ban ngành và các tổ chức tín dụng.
Năng lượng gió có ở nhiều vùng. Do đó nguồn cung cấp năng lượng gió của đất nước thì rất phong phú. Năng lượng gió là một dạng năng lượng có thể tái tạo lại được mà giá cả lại thấp do khoa học tiến tiến ngày nay. Khoảng 4 đến 6 cent/KWh.
Điều đó còn tuỳ thuộc vào nguồn gió, tài chính của công trình và đặc điểm của công trình. Turbine gió có thể xây dựng trên các nông trại, vì vậy đó là một điều kiện kinh tế cho các vùng nông thôn, là nơi tốt nhất về gió mà có thể tìm thấy. Những người nông dân và các chủ trang trại có thể tiếp tục công việc trên đất của họ bởi vì turbine gió chỉ sử dụng một phần nhỏ đất trồng của họ, chủ đầu tư năng lượng gió chỉ phải trả tiền bồi thường cho những nông dân và chủ các trang trại mà có đất sử dụng việc lắp đặt các turbine gió. 12 Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG GIÓ b.
Những khó khăn: Vốn đầu tư dự án lớn, giá bán điện cho EVN còn thấp, gây khó khăn về tài chính và khả năng hoàn vốn cho chủ đầu tư. Thiết bị tua bin gió chưa phù hợp với khí hậu Việt Nam, hoạt động chưa ổn định, mất nhiều thời gian hiệu chỉnh, thay thế linh kiện. Các thiết bị đều thuộc loại siêu trường, siêu trọng, khó khăn trong vận chuyển và lắp đặt, bên cạnh đó còn phụ thuộc vào công nghệ và bảo dưỡng sửa chữa của nước ngoài. Chưa có các tiêu chuẩn áp dụng cho điện gió tại Việt Nam dẫn tới khó khăn trong việc cấp chứng nhận đầu tư và thẩm định kỹ thuật dự án.
Nhược điểm lớn nhất của năng lượng gió là sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và chế độ gió. Vì vậy khi thiết kế, cần nghiên cứu hết sức chi tiết về chế độ gió, địa hình cũng như loại gió không có các dòng rối (có ảnh hưởng không tốt đến máy phát). Cũng vì những lý do có tính phụ thuộc vào điều kiện môi trường như trên, năng lượng gió tuy ngày càng phổ biến và quan trọng nhưng chưa thể là nguồn năng lượng chủ lực. Một điểm cần lưu ý nữa là khả năng các trạm điện gió sẽ gây ô nhiễm tiếng ồn trong khi vận hành, cũng như có thể phá vỡ cảnh quan tự nhiên và có thể ảnh hưởng đến tín hiệu vô tuyến nếu các yếu tố về kỹ thuật không được quan tâm đúng mức.
Do vậy, khi xây dựng các khu điện gió cần tính toán khoản cách hợp lý đến các khu dân cư, khu du lịch để không gây những tác động tiêu cực. Năng lượng gió phải cạnh tranh với các nguồn phát sinh thông thường ở một giá cơ bản. Điều đó còn phụ thuộc vào nơi có gió mạnh như thế nào. Vì thế nó đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu cao hơn các máy phát điện chạy bằng nhiên liệu khác.
Năng lượng gió là một nguồn năng lượng không liên tục và nó không luôn luôn có khi cần có điện. Năng lượng gió không thể dự trữ được và không phải tất cả năng lượng gió có thể khai thác được tại thời điểm mà có nhu cầu về điện. Những nơi có năng lượng gió tốt thường ở những vị trí xa xôi cách thành phố, nhà máy, khu công nghiệp, đây là những nơi có nhu cầu về điện cao. 13 Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG GIÓ 1.
Tiềm năng điện gió của Việt Nam Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam có một thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió. So sánh tốc độ gió trung bình trong vùng biển Đông Việt Nam và các vùng biển lân cận cho thấy gió tại biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiều theo mùa [9]. Ở Việt Nam, các khu vực có thể phát triển năng lượng gió không trải đều trên toàn bộ lãnh thổ. Với ảnh hưởng của gió mùa thì chế độ gió cũng khác nhau.
Trong chương trình đánh giá về năng lượng cho Châu Á, Ngân hàng Thế giới đã có một khảo sát chi tiết về năng lượng gió ở khu vực Đông Nam Á ở hình 1.7, trong đó Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất. Theo số liệu, tiềm năng gió của Việt Nam (trên độ cao 65 mét) rất khả quan, ước đạt 513.360 MW tức là lớn hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La (2400 MW), và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Hai vùng giàu tiềm năng nhất để phát triển năng lượng gió là Sơn Hải (Ninh Thuận) và vùng đồi cát ở độ cao 60-100m từ phía tây Hàm Tiến đến Mũi Né (Bình Thuận). Vùng này không những có tốc độ gió trung bình lớn, mà còn có một thuận lợi là số lượng các cơn bão khu vực ít và gió có xu thế ổn định.
Trong những tháng có gió mùa, tỷ lệ gió nam và đông nam lên đến 98% với vận tốc trung bình 6-7 m/giây, tức là vận tốc có thể xây dựng các trạm điện gió công suất 3-3,5 mW. Ở cả hai khu vực này, dân cư thưa thớt, thời tiết khô nóng, khắc nghiệt, và là những vùng dân tộc đặc biệt khó khăn của Việt Nam.