mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở Việt Nam trong thời kỳ đôi mới. Pháp lệnh tổ chức luật sư quy định tiêu chuẩn để được công nhận là luật sư, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực giúp đỡ pháp lý của luật sư. Pháp lệnh cũng qui định về việc tô chức các đoàn luật sư ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chỉ sau gần 10 năm, ở hầu hết ở các tỉnh, thành phố đã thành lập được đoàn luật sư, với đội ngũ luật sư lên tới hàng nghìn người.
Hoạt động nghề nghiệp luật sư cũng đã có bước phát triển đáng kế. Ngoài việc tham gia tố tụng, các luật sư đã từng bước mở rộng hoạt động nghề nghiệp sang lĩnh vực tư van pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp ly khác. Trong công cuộc đổi mới đất nước, Dang và Nha nước đã đề ra những chủ trương, biện pháp cải cách mạnh mẽ về tô chức, hoạt động của các hệ thống chính trị, trong đó có việc đôi mới tổ chức hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp nham đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và thúc đây quá trình hội nhập của đất nước. Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã được ban hành.
Nội dung của Pháp lệnh thé hiện quan điểm cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động luật sư theo hướng chính quy hoá, chuyên nghiệp hoá đội ngũ luật sư, nghề luật sư, tăng cường vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hội 10 nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam. Với nội dung tiến bộ, phù hợp với yêu cầu khách quan, Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã nhanh chóng đi vào cuộc sống. Chỉ sau 5 năm thi hành Pháp lệnh, đội ngũ luật sư đã tăng đáng kể cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, đã thành lập trên 1.000 tô chức hành nghề là các văn phòng luật sư, các công ty luật hợp danh.
Trong tham gia tố tụng, nhiều luật sư đã dần khang định trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp khi tham gia tranh tụng tại các phiên tòa. Hoạt động tư van phap luat cua luat sư cũng đã có bước phat triển đáng kể, đặc biệt là tư van cho khách hang trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại ngày càng nhiều và ngày càng nâng cao về chất lượng dịch vụ. Có thể nói Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã tạo một bộ mặt mới với triển vọng phát trién mạnh mẽ nghề luật sư đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế - quốc tế ở Việt Nam. Việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) vào năm 2007 đã tạo ra vị thế và những cơ hội mới phát triển đất nước, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới to lớn cho Đảng, Nhà nước và nhân dân, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và các thiết chế cùng với cơ chế vận hành theo lộ trình phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Trong các năm 2005, 2006, 2007, Việt Nam đã ban hành một số lượng lớn các đạo luật mới hoặc thay thế các đạo luật không còn phù hợp, trong đó có Luật Luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2007 thay thế Pháp lệnh luật sư năm 2001. Luật Luật sư được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo cơ sở pháp lý day nhanh quá trình xây dựng đội ngũ luật sư, nghề luật sư mang tính chuyên nghiệp, ngang tầm với nghề luật sư ở các nước tiên tiến trên thế giới. Đặc biệt Luật Luật sư đã quy định hoàn chỉnh hệ thống các to chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư từ Trung ương tới các tỉnh, thành phó II trực thuộc Trung ương. Có thé nói, Luật Luật sư là mốc son đánh dẫu một bước phát triển và hoàn thiện của Hệ thống pháp luật ở Việt Nam, và qua đó mở ra nhiều triển vong, VỊ thế mới cho nghề luật sư ở Việt Nam.
Dé tiép tục khắc phục những điểm còn hạn chế của Luật Luật sư 2006 và có những quy định nhăm thúc đây dịch vụ luật sư phát triển ở Việt Nam cũng như việc thé hiện chính sách mở cửa dịch vụ luật sư của Việt Nam sao cho phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, Quốc Hội đã ban hành Luật sửa đôi, bố sung một số điều của Luật Luật sư 2012. Đánh dấu thời kì phát triển dịch vụ luật sư thành một dịch vụ phô biến trong xã hội và khẳng định vị trí, vai trò của Luật sư trong xã hội, phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp. Cùng với sự phát triển của tổ chức luật sư trong nước, Việt Nam cũng có những chính sách nhằm tạo điều kiện cho các chi nhánh, tổ chức luật sư nước ngoài. Từ tháng 2/1996 đến nay, Bộ Tư pháp đã xem xét và cấp giấy phép thành lập 60 chi nhánh va công ty luật nước ngoài, cho phép trên 120 luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam.
Hiện nay, trong cả nước có 27 chi nhánh và 7 công ty luật nước ngoài với 90 luật sư nước ngoài đăng ký hành nghề. Quan niệm về dịch vụ luật sư 1. Khái niệm dich vụ thương mai pháp lý Đề hiểu về dịch vụ luật sư với tư cách như một dịch vụ thương mại pháp lý thì trước tiên cần đi từ những khái niệm đơn giản nhất về dịch vụ. Dịch vụ là một khái niệm rất rộng và có nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Nhìn từ góc độ nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, Các Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nên kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên 12 tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát trién"[28]. Theo nghĩa rộng có thé hiểu “Dịch vu là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tôn tại dưới hình dang vật thé.” Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thé giới nói chung. Ở đây dich vụ không chỉ bao gồm những ngành truyền thống như: giao thông vận tải, du lịch, ngân hàng, thương mại, bao hiểm, bưu chính viễn thông mà còn lan toả đến các lĩnh vực rất mới như: dịch vụ văn hoá, hành chính, bảo vệ môi trường, dịch vụ tư vấn, dịch vụ pháp lý. Dịch vụ mang những đặc điểm riêng phân biệt với hoạt động sản xuất hàng hóa đó là: Tính vô hình hay phi vật chất, tính không đồng nhất, khó tiêu chuẩn hóa, tính không thé phân chia, tinh không lưu giữ được và dich vụ có tỷ trọng hàm lượng tri thức lớn.
Như vậy, hiểu một cách khái quát, dịch vụ là các hoạt động của con người, được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không thê cầm nắm được. Trong các loại hình dịch vụ thì dịch vụ thương mại có thể coi là gitt vai trò quan trọng nhất và cũng được quan tâm nhiều nhất hiện nay. Dịch vụ thương mại là các loại hình dịch vụ gan liền và phục vụ cho thương mại hang hóa như dịch vụ kho bãi, dịch vụ vận tải, dịch vụ quảng cáo. Theo WTO, dịch vụ thương mại là dịch vụ nằm trong 155 phân ngành đưa ra trong hiệp định GATS.
Và việc phân loại này của WTO dựa vào hệ thống phân loại sản phẩm trung ương tạm thời CPCprov. (provisional Central Product Classification) năm 1991 của Liên Hợp quốc. Dựa trên sự phân loại của hệ thống phân loại sản phẩm trung ương tạm thời của WTO, có một dịch vụ khá mới và đặc thù so với các dịch vụ thương mại thông thường khác đó là dịch vụ thương mại pháp lý. Do việc hành nghề 13 dịch vụ thương mại pháp lý gắn với việc thi hành pháp luật, có tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp không chỉ của cá nhân, công dân mà còn cả của tổ chức, của cộng đồng, ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước.
Nội dung dịch vụ pháp lý theo quy định của WTO/GATs có phạm vi tương đối rộng và cụ thể. Theo danh mục Phân loại ngành dịch vụ của WTO thì — “(a) dịch vụ pháp lý” được xếp vào tiểu phân ngành “(A) Dịch vụ nghề nghiệp”, thuộc phân ngành “(1) DỊCH VỤ KINH DOANH( CPC prov. số 861) trong hệ thống phân loại sản phẩm trung ương tam thời (Provisional Central Product Classification — PCPprov.) của Liên Hợp quốc năm 1991. Với việc dẫn chiếu đó, dịch vụ pháp lý được chia thành: Dịch vụ tư van va đại diện pháp lý trong các lĩnh vực luật pháp khác nhau (Gồm dịch vụ tư vẫn va đại điện pháp lý liên quan tới luật hình sự và dịch vụ tư van va đại diện trong thủ tục tư pháp liên quan tới các lĩnh vực luật pháp khác); Dịch vụ tư van và đại diện trong các thủ tục tư pháp của các cơ quan, hội đồng, ban mang tính tòa án; Dịch vụ chứng nhận và chứng từ pháp lý; Các dịch vụ thông tin và tư van pháp lý khác; Dịch vụ trọng tài và hòa giải (Theo CPC prov.866) Ở Việt Nam, có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc kinh doanh dịch vụ pháp lý và hành nghé luật sư có đồng nhất với nhau hay không.
Theo quan điểm của tác giả kinh doanh dịch vụ pháp lý rộng hơn hành nghề luật sư và có thé hiểu “dich vu thương mại pháp ly là loại hình dich vu có liên quan đến lĩnh vực pháp luật mà bên cung ứng dịch vụ thực hiện cho khách hang một hoạt động cụ thể có liên quan đến pháp luật nhằm mục đích kiếm lời”. Cách định nghĩa này nhắn mạnh vào hai đặc điểm nổi bật của dịch vụ thương mại pháp lý so với các dịch vụ khác đó là mục đích tìm kiếm lợi nhuận và lĩnh vực pháp luật. 14 Từ định nghĩa trên có thé thay rằng việc hành nghé luật sư chỉ là một phan của dịch vụ thương mại pháp lý và có thé có những chủ thé cung cấp dịch vụ thương mại pháp lý nhưng không có mục đích kiếm lời thì cũng không phải là dich vụ thương mại pháp lý.