CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái niệm về xâm nhập mặn: Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới, chỉ có 2,5% tổng lượng nước trên Trái đất là nước ngọt, phần còn lại là nước mặn. Nguồn nước ngọt lớn nhất lại nằm dưới lòng đất (nước ngầm) và một phần nước mặt nằm rải rác ở nhiều khu vực trên thế giới. Nước ngầm được sử dụng rộng rãi để bổ sung cho nguồn nước mặt nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng.
Tuy nhiên, một trong những vấn đề đối với hệ thống nước ngầm ở những vùng ven biển chính là xâm nhập mặn. [1] Xâm nhập mặn là quá trình thay thế nước ngọt trong các tầng chứa nước ở ven biển bằng nước mặn do sự dịch chuyển của khối nước mặn vào tầng nước ngọt (Hình 1. Xâm nhập mặn làm giảm nguồn nước ngọt dưới lòng đất ở các tầng chứa nước ven biển do cả hai quá trình tự nhiên và con người gây ra.1 Sự dịch chuyển của khối nước vào tầng nước ngọt (Nguồn: EOE) Theo Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Xâm nhập mặn là hiện tượng nước mặn với nồng độ mặn bằng 4‰ xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt. Tổng quan các phương pháp xử lý nước nhiễm mặn Nguồn nước cấp ở những địa điểm khác nhau thì có thành phần ô nhiễm khác nhau.
Nhưng nhìn chung thành phần ô nhiễm chủ yếu là: độ đục thấp; ít chứa khí oxy nhưng chứa nhiều khí CO2, H2S,…; chứa nhiều khoáng chất hòa tan chủ yếu là sắt, mangan, canxi, magie, flo; không có hiện diện của vi sinh vật,… Với thành phần ô nhiễm như trên, việc xử lý nước là loại bỏ các tạp chất đó, làm sạch nước và đưa vào nguồn tiếp nhận. Tùy vào mục đích sử dụng mà áp dụng các phương pháp xử lý khác nhau. Các phương pháp chính thường được sử dụng trong các công trình xử lý nước cấp là: phương pháp cơ học, phương pháp hóa học và phương pháp lý học. - Phương pháp cơ học: Là phương pháp dùng các công trình và thiết bị để làm sạch nước.
Biện pháp cơ học thường được sử dụng gồm: song chắn rác, lưới chắn rác, bể lắng, bể lọc [2]. - Phương pháp hóa học: Là phương pháp dùng các hóa chất cho vào nước để xử lý nước. Biện pháp hóa học gồm: dùng phèn làm chất keo tụ, dùng vôi để kiềm hóa nước, cho clo vào nước để khử trùng [2]. - Phương pháp lý học: Là phương pháp dùng các tia vật lý để khử trùng nước.
Biện pháp lý học gồm: tia tử ngoại, sóng siêu âm, điện phân nước biển để khử muối, khử khí CO2 hòa tan trong nước bằng phương pháp làm thoáng…[2]. Trong 3 biện pháp xử lý nước cấp nêu trên thì biện pháp cơ học là biện pháp xử lý nước cơ bản nhất. Biện pháp cơ học có thể xử lý nước độc lập hoặc kết hợp với biện pháp hóa học và lý học, như thế sẽ giúp làm tăng hiệu quả xử lý, rút ngắn thời gian xử lý, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Phương pháp xử lý nước nhiễm mặn: Công nghệ xử lý nước lợ thành nước ngọt cũng rất đa dạng khác nhau.
Trên thế giới hiện có nhiều phương pháp lọc nước mặn, nước lợ thành nước ngọt. Đó là phương pháp chưng cất sử dụng năng lượng mặt trời SD (giống như phương pháp nấu rượu); phương pháp “thẩm thấu ngược” dùng màng lọc RO; phương pháp điện thẩm tích ED; phương pháp sử dụng nhựa trao đổi ion và phương pháp sử dụng màng lọc nano (NF). - Phương pháp chưng cất sử dụng năng lượng mặt trời: Phương pháp này rất thích hợp với những nơi không có điện (hải đảo, vùng sâu vùng xa…). Tuy nhiên, nó lại phụ thuộc nhiều vào năng lượng mặt trời và cho công suất rất hạn chế.
5 - Phương pháp thẩm thấu ngược đang được ứng dụng rộng rãi hiện nay, có thể lọc được nước với nhiều độ mặn khác nhau, đáp ứng được nhiều công suất nhưng chi phí đầu tư cao do đòi hỏi năng lượng lớn, chi phí vận hành cũng cao, do tuổi thọ của màng lọc có giới hạn cần nhiều chi phí cho thay thế màng lọc. - Phương pháp nhựa trao đổi ion: Phương pháp này chỉ hiệu quả với nguồn nước có độ mặn thấp < 1‰. Nhược điểm của phương pháp này là nhựa trao đổi ion nhanh bị “no”, do vậy thường xuyên phải hoạt hóa tái sinh dẫn đến vận hành khó khăn và chi phí cao. - Phương pháp điện thẩm tích (Electrodialysis-ED): So sánh với các phương pháp trên, đây là công nghệ tiên tiến nhất và có hiệu quả nhất khi xử lý các nguồn nước có hàm lượng TDS trong khoảng từ 0,5 – 3‰.
Tuy nhiên, chi phí năng lượng cao và khó ứng dụng vào thực tiễn, đặc biệt đối với các vùng sâu, vùng xa và các đơn vị quân đội. - Phương pháp sử dụng màng lọc nano (NF): Đây là phương pháp mới đang được nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam trong những năm gần đây, Các nghiên cứu ban đầu cho thấy phương pháp này tương đối hiệu quả với nguồn nước có độ mặn từ 1 – 10‰, với chi phí năng lượng không cao. Tổng quan các công nghệ xử lý nước mặn Theo Hiệp hội Khử mặn quốc tế, trên thế giới hiện có khoảng 16.000 nhà máy khử mặn nước biển và nước lợ đang hoạt động, cung cấp hơn 90 triệu m3 nước ngọt mỗi ngày, đáp ứng nhu cầu nước ngọt hàng ngày cho hơn 5% dân số của thế giới [3]. Các nhà máy khử mặn cung cấp nước ngọt trên thế giới chủ yếu dựa trên hai nguồn nước cấp mặn là nước biển và nước nhiễm mặn (nước lợ) [4].
Hai nguồn nước này có thành phần, đặc tính khác nhau nên công nghệ khử mặn được áp dụng cũng khác nhau. Tổng quan các công nghệ xử lý nước biển Nước biển có độ mặn dao động từ 15. Theo tài liệu nghiên cứu “Thiết kế, gia công, chế tạo hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt, có thể sử dụng nguồn điện mặt trời hoặc điện gió, cho các đơn vị quân đội đảo Sinh Tồn Đông - Trường Sa. Nguyễn Như Dũng trong đề tài cấp Sở KHCN TP.HCM năm 2018, hai công nghệ khử mặn nước biển phổ biến nhất hiện nay là công nghệ chưng cất truyền thống và công nghệ màng [5].
- Khử mặn bằng công nghệ chưng cất truyền thống: 6 Dòng nước mặn được gia nhiệt để đun sôi và hơi nước bốc lên từ nước mặn được ngưng tụ để thu được nước ngọt. Muối và các chất tan không bay hơi nằm lại trong dòng nước mặn. Công nghệ chưng cất truyền thống cho phép thu được nước ngọt có độ tinh khiết rất cao. Hai dạng công nghệ chưng cất truyền thống là chưng cất nhanh nhiều bậc MSF (Multi-stage Flash) và chưng cất đa hiệu ứng MED (Multi-effect Distillation).2 Quá trình khử mặn nước biển bằng công nghệ MSF [6].
Nguyên lý hoạt động của quá trình MSF: Nước biển đã qua tiền xử lý chạy qua các ruột gà có vai trò như nước làm mát để ngưng tụ hơi nước trong các buồng bay hơi và được gia nhiệt sơ bộ nhờ nhiệt ngưng tụ của hơi nước. Nước biển đã gia nhiệt sơ bộ sau đó được tuần hoàn qua một thiết bị trao đổi nhiệt: trong thiết bị này, nước biển được đun nóng (90 – 100 oC) bằng hơi nóng. Nước biển đã được đun nóng sau đó được bơm vào các buồng bay hơi để bốc hơi nước. Sau khi đi qua các buồng bay hơi (các giai đoạn), nhiệt độ của nước biển giảm xuống trong khi độ mặn của nước biển tăng lên.
Nước biển mặn ấm sau buồng bay hơi cuối cùng sẽ được bơm thải ra ngoài hệ thống. Để thúc đẩy quá trình bốc hơi nước, áp suất trong các buồng bay hơi được giảm xuống theo thứ tự từ buồng thứ nhất cho đến buồng cuối cùng sử dụng bơm hút chân không. [6] Cùng hoạt động dựa trên nguyên lý chưng cất nhưng nguy cơ xảy ra cặn kết tủa của quá trình MED cao hơn nhiều so với quá trình MSF. Điều này là do trong quá trình MED, sự bốc hơi của nước biển diễn ra trên bề mặt các dàn trao đổi nhiệt trong khi quá trình MSF nước bốc hơi từ bề mặt dòng nước biển mặn.3 Sơ đồ công nghệ hệ thống MED [6].
Các công nghệ chưng cất truyền thống này được vận hành dựa trên sự phụ thuộc của quá trình bay hơi và ngưng tụ của nước vào nhiệt độ và áp suất. Trong các hệ thống MSF và MED người ta sử dụng nhiều khoang bay hơi và ngưng tụ liên tiếp, nhiệt độ nước cấp và áp suất trong các khoang giảm dần từ khoang đầu đến khoang cuối cùng. Nhiệt lượng thoát ra từ quá trình ngưng tụ hơi nước trong khoang này được sử dụng để gia nhiệt cho dòng nước mặn ở khoang tiếp theo, do đó làm giảm nhiệt năng tiêu thụ của cả quá trình và giảm giá thành nước ngọt thu được.[6] Tuy nhiên, các công nghệ khử mặn này tiêu tốn nhiều năng lượng để làm bay hơi nước biển và ngưng tụ hơi nước, cấu tạo phức tạp, tốn nhiều chi phí xây dựng và vận hành, dễ xảy ra hiện tượng lắng cặn. - Công nghệ màng cho khử mặn nước biển Hai loại công nghệ màng đang được sử dụng rộng rãi cho khử mặn nước biển là công nghệ thẩm thấu ngược (Reverse Osmosis - RO) và điện thẩm tách (Electrodialysis - ED).
Khác với các quá trình chưng cất truyền thống, quá trình khử mặn sử dụng công nghệ RO và ED không đòi hỏi sự chuyển pha của nước để thực hiện quá trình tách, do vậy năng lượng tiêu thụ của quá trình khử mặn dùng công nghệ RO và ED thấp hơn nhiều so với công nghệ chưng cất truyền thống. Năng lượng tiêu thụ của quá trình khử mặn sử dụng công nghệ RO và ED là điện năng. [6] Tuy nhiên nguy cơ bẩn màng cũng là nhược điểm của việc sử dụng màng cho khử mặn nước biển. Quá trình rửa màng tiêu tốn hoá chất và làm giảm thời gian vận hành của quá trình và giảm tuổi thọ của màng.
Do đó, ưu tiên hàng đầu trong quá trình khử mặn nước biển bằng công nghệ màng là phải tiền xử lý dòng nước biển cấp vào hệ thống.2 Tổng quan công nghệ xử lý nước nhiễm mặn So với nước biển, nước nhiễm mặn có độ mặn thấp hơn, từ 1.000mg/L, để sử dụng nước này cho nhu cầu sinh hoạt của con người thì độ mặn của nước phải giảm xuống dưới 500mg/L.