CHƯƠNG 1.1 Giới thiệu lý do chọn đề tài Theo Dự thảo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Dự thảo Quy hoạch điện VIII) tại Thông báo của Chính phủ số 116/TB-VPCP ngày 17/4/2022, tỷ trọng cơ cấu nguồn phân tán ở mức cao, 121. Cụ thể gồm điện gió có công suất là 60.610MW chiếm 21,9%, điện mặt trời là 55.090MW chiếm 19,9%, điện sinh khối và các nguồn năng lượng tái tạo khác là 5. So với Đức, quốc gia có mức độ phát triển nguồn năng lượng tái tạo cao nhất trên thể giới. Năm 2020, tại Đức có hơn 35% lượng điện tiêu thụ hàng năm đến từ hơn 30.000 tuabin gió hoạt động với tổng công suất lắp đặt khoảng 60GW và khoảng 1,7 triệu thiết bị năng lượng mặt trời với tổng công suất lắp đặt khoảng 46GW (nguồn: vinatom.
Cùng với đó, Đức cũng là quốc gia có hệ thống điện hiện đại bậc nhất thế giới với các thiết bị điện tiên tiến có thể đảm bảo lưới điện được vận hành an toàn và ổn định. Tuy nhiên, với tỷ trọng của nguồn phân tán theo Quy hoạch điện VIII tại Việt Nam là khá cao, cần phải được xem xét khi hệ thống điện chưa được đồng bộ và khả năng truyền tải và phân phối chưa đảm bảo. Việc xác định tỷ trọng của các nguồn phân tán cho hệ thống điện Việt Nam cùng với sự phát triển của lưới điện theo từng giai đoạn là cần thiết. Đó cũng chính là lý do để chọn đề tài này.2 Tính cấp thiết của đề tài Với chiến lược phát triển nguồn năng lượng sạch trên thế giới, Việt Nam là một quốc gia có lợi thế về địa hình và vị trí để khai thác nguồn năng lượng vô tận, đó chính là nguồn năng lượng gió và nguồn năng lượng mặt trời.
Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ nguồn năng lượng này. Tuy nhiên, việc khai thác nguồn năng lượng tái tạo này phải có kế hoạch cùng việc phát triển mạng lưới phân phối và mạng lưới truyền tải cùng các nguồn khác một cách phù hợp. LUẬN VĂN THẠC SĨ HV: LÊ HẢI ĐĂNG GVHD: TS. NGUYỄN PHÚC KHẢI 2 Đề tài nghiên cứu này cũng là một phương pháp giải quyết bài toán Quy hoạch nguồn năng lượng tái tạo để tránh tình trạng phát triển ồ ạt thiếu định hướng như hiện nay.
Ngoài ra, kết quả tính toán mà đề tài mang lại có thể xem là một giá trị tham khảo cho đơn vị Quản lý vận hành lưới điện trong việc huy động nguồn phù hợp.3 Phạm vi nghiên cứu Trong đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu đánh giá tính ổn định điện áp của hệ thống điện theo mức xâm nhập của nguồn phân tán và đối tượng nghiên cứu là hệ thống điện tỉnh với các dữ liệu đầu vào là nguồn dữ liệu ở giai đoạn hiện tại và các kịch bản được xây dựng để làm giả thiết tính toán. Đặc điểm lưới điện được lựa chọn phải đảm bảo các loại hình nguồn gồm nguồn điện truyền thống (thủy điện, nhiệt điện), nguồn điện gió, nguồn điện mặt trời. Về đặc điểm, tính chất và quy mô lưới điện mô phỏng sẽ được trình bày chi tiết ở phần sau. LUẬN VĂN THẠC SĨ HV: LÊ HẢI ĐĂNG GVHD: TS.
NGUYỄN PHÚC KHẢI 3 CHƯƠNG 2. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 2.1 Giới thiệu tổng quan về nguồn phân tán Mô hình điện phân tán có cả ưu điểm và nhược điểm so với mô hình tập trung, truyền thống (Bảng 2. Ví dụ, ở các vùng nông thôn/ hải đảo chưa được đầu tư phát triển hệ thống điện do nhiều điều kiện khó khăn, mô hình nguồn điện phân tán có thể là lựa chọn duy nhất, vì chi phí mở rộng lưới điện tập trung có thể rất cao. Tương tự, ở những khu vực đã lắp đặt lưới điện tập trung, nguồn phát điện phân tán (DG) có thể cải thiện khả năng phục hồi của lưới điện bằng cách nâng cao độ tin cậy trong những trường hợp rủi ro như thời tiết khắc nghiệt.
Nó cũng có thể cung cấp một hướng cho đầu tư tư nhân trong tình hình hiện nay.1 – So sánh khái niệm về hệ thống điện tập trung và phân tán [1] Thuận lợi - Một loạt các công nghệ cải tiến, hoàn thiện - Chi phí sản xuất thấp hơn Nguồn tập trung - Phụ tải đa dạng hơn, làm phẳng đồ thị phụ tải - Nền công nghiệp phát triển - Thích hợp cho các cộng đồng nhỏ/ vùng sâu vùng xa - Khả năng phục hồi của hệ thống cao hơn do sự Nguồn phân tán đa dạng của nguồn cung cấp - Giảm tổn thất truyền tải và phân phối - Cho phép đầu tư tư nhân trực tiếp Các loại hình nguồn phân tán trên thế giới hiện nay gồm có: − Nguồn điện mặt trời: Hệ thống các nhà máy năng lượng mặt trời phân tán trên thế giới đang phát triển nhanh chóng. Dữ liệu được công bố về phát triển nguồn năng lượng mặt trời (bao gồm cả phát điện tập trung và phân tán) trên thế giới như sau: LUẬN VĂN THẠC SĨ HV: LÊ HẢI ĐĂNG GVHD: TS. NGUYỄN PHÚC KHẢI 4 • Công suất đặt nguồn năng lượng mặt trời trên thế giới đã tăng khoảng 40% mỗi năm kể từ đầu năm 2008 (Nguồn: REN 21, 2014). • Công suất đặt nguồn năng lượng mặt trời trên thế giới đạt 139 GW vào cuối năm 2013 với hơn một nửa công suất được lắp đặt trong năm 2012 và 2013 (Nguồn: REN21, 2014).
• Các dự báo của ngành cho thấy thị trường năng lượng mặt trời trên thế giới tiếp tục tăng trưởng, vượt 50 GW mỗi năm vào năm 2017 (Nguồn: EPIA, tháng 5 năm 2014). • Tại Việt Nam, tính đến đến cuối năm 2020, tổng công suất lắp đặt điện mặt trời trên cả nước đã đạt khoảng 19.400 MWp tương đương 16.500 MW (Nguồn: evn.vn) − Nguồn thủy điện nhỏ và siêu nhỏ: mô hình thủy điện nhỏ và siêu nhỏ không yêu cầu một con đập hoặc các sửa đổi lớn đối với dòng sông để khai thác năng lượng từ dòng chảy. Tuy nhiên, chúng yêu cầu một dòng nước ổn định và đáng tin cậy cũng như kỹ thuật và thiết kế cụ thể cho từng địa điểm. Dữ liệu về công suất đặt cho các nguồn thủy điện nhỏ và siêu nhỏ trên thế giới rất khan hiếm.
Công suất đặt của thủy điện nhỏ (dưới 10 MW) trên thế giới hiện tại là 75 GW với tiềm năng tài nguyên bổ sung trên 100 GW, chủ yếu ở châu Á (Nguồn: UNIDO, 2013). Công suất đặt nguồn thủy điện nhỏ và siêu nhỏ ở một số quốc gia trên thế giới được cụ thể như sau: • Pakistan có 538 nhà máy thủy điện siêu nhỏ với tổng công suất lắp đặt khoảng 8 MW. • Malaysia có 149 vị trí với công suất tiềm năng khoảng 29 MW. • Afghanistan 160 nhà máy thủy điện siêu nhỏ, trong đó có khoảng 30 ÷ 40% nhà máy đang trong giai đoạn xây dựng.
LUẬN VĂN THẠC SĨ HV: LÊ HẢI ĐĂNG GVHD: TS. NGUYỄN PHÚC KHẢI 5 − Nguồn năng lượng từ các tua bin gió: Tua bin gió có nhiều loại kích cỡ, từ loại tạo ra công suất dưới 1 kW (được sử dụng chủ yếu cho chiếu sáng khu dân cư và đường phố) đến loại có công suất lớn hơn 7 MW (được sử dụng để hòa lưới). Các tuabin gió nhỏ thường nhỏ hơn 100 kW và được đặt tại hoặc gần điểm tiêu thụ điện. Tính đến cuối năm 2012, đã có khoảng 1 triệu tuabin gió nhỏ được lắp đặt trên toàn thế giới, với tổng công suất phát điện khoảng 700 MW (WWEA, 2014).
Công suất đặt nguồn năng lượng từ các tua bin gió công suất nhỏ tại một số quốc gia trên thế giới được cụ thể như sau: • Trung Quốc là thị trường lớn nhất cho các tuabin này, chiếm 39% công suất toàn cầu (Nguồn: WWEA, 2014). • Hầu hết các cơ sở lắp đặt tuabin gió nhỏ ở Trung Quốc và Hoa Kỳ là không nối lưới, nghĩa là chúng phục vụ cho một hộ gia đình hoặc tòa nhà (Nguồn: WWEA 2014; US DOE, 2014). Nguồn: Navigant Research Hình 2.1 – Dự báo về cơ cấu nguồn phát trên giới giai đoạn 2019 – 2028 LUẬN VĂN THẠC SĨ HV: LÊ HẢI ĐĂNG GVHD: TS. NGUYỄN PHÚC KHẢI 6 Một số mô hình nguồn phân tán được nghiên cứu trên thế giới hiện nay gồm các loại hình nguồn phát như điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối và một số nguồn năng lượng tái tạo khác.2 – Mô hình của DER trong các nghiên cứu về trạng thái ổn định [3] LUẬN VĂN THẠC SĨ HV: LÊ HẢI ĐĂNG GVHD: TS.
NGUYỄN PHÚC KHẢI 7 Hình 2.3 – Mô hình nguồn phát phân tán ở Canada 2.2 Xu hướng phát triển nguồn phân tán tại Việt Nam Hệ thống điện Việt Nam đang trải qua quá trình chuyển đổi sâu sắc: một số mô hình cũ trở nên mờ nhạt và các tầm nhìn mới cần được phát triển để đối mặt với những thách thức mà biến đổi khí hậu, sự khan hiếm tài nguyên và đô thị hoá sẽ mang lại trong một, hai thập kỷ tới. Các nhà máy điện luôn là một phần không tách rời của hệ thống điện. Xét về mặt kinh tế, công suất các nhà máy điện càng lớn, hiệu quả kinh tế càng cao. Tuy nhiên, do phụ thuộc vào nguồn cung cấp nguyên liệu sơ cấp, nên các nhà máy điện thường nằm xa phụ tải, xa các khu dân cư.
Hệ thống lưới điện truyền tải và phân phối sẽ đảm nhận nhiệm vụ đưa điện từ các nhà máy này tới các hộ tiêu thụ. Đây là mô hình phát điện tập trung dạng truyền thống, được sử dụng trong điều kiện chi phí vận chuyển nhiên liệu và chi phí xây dựng các nhà máy điện gần trung tâm phụ tải vượt xa chi phí xây dựng lưới truyền tải và phân phối điện. Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm, ngành Điện Việt Nam còn phải đối mặt với thiên tai, bão lũ gây nhiều sự cố trên lưới điện nói chung và đặc biệt là lưới điện truyền tải nói riêng. Bên cạnh đó, yêu cầu đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện và chất lượng điện năng của khách hàng ngày càng cao, đòi hỏi ngành Điện phải có những bước đi phù hợp trong xây dựng hệ thống nguồn và lưới điện.
Mô hình phát điện phân tán (Distributed Generation - DG) là mô hình phát điện quy mô nhỏ, nằm gần hoặc ngay tại điểm tiêu thụ điện năng. Mặc dù mô hình có hiệu quả kinh tế không cao so với mô hình phát điện tập trung, nhưng lại có tính dự phòng và độ tin cậy lớn trong cung ứng điện cho tải khu vực. Các nguồn năng lượng phân tán sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng carbon thấp một cách thông minh và linh hoạt. Một LUẬN VĂN THẠC SĨ HV: LÊ HẢI ĐĂNG GVHD: TS.