Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hệ thống ngân hàng thương mại giữ vai trò trung gian tài chính và là huyết mạch trong quá trình lưu chuyển tiền tệ của toàn bộ nền kinh tế. Sự ổn định và khả năng duy trì hoạt động an toàn của hệ thống ngân hàng tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, sự sụp đổ của hàng loạt định chế tài chính quốc tế đã làm gia tăng mối quan tâm của các cơ quan quản lý và các tổ chức tín dụng đối với vấn đề quản trị rủi ro và ngăn ngừa tính dễ tổn thương. Tại Việt Nam, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, hệ thống ngân hàng thương mại đã có sự tăng trưởng nhanh chóng về quy mô tài sản và mạng lưới hoạt động, song vẫn là một hệ thống non trẻ, đứng trước nhiều áp lực cạnh tranh và tiềm ẩn các rủi ro hệ thống. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần lớn tại Việt Nam, việc nhận diện và đo lường mức độ dễ tổn thương của ngân hàng này trong giai đoạn biến động kinh tế 2007 - 2012 có ý nghĩa quan trọng nhằm xây dựng các giải pháp phòng ngừa rủi ro.

Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tính dễ tổn thương của các ngân hàng thương mại, xác định nguyên nhân và các nhóm nhân tố nội sinh, ngoại sinh tác động đến mức độ tổn thương của ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế.
  2. Vận dụng các tiêu chuẩn quốc tế và quy định quản lý chuyên ngành tại Việt Nam để đánh giá thực trạng tính dễ tổn thương của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2007 - 2012 thông qua hai trụ cột: mức độ ổn định và mức độ an toàn.
  3. Phân tích, đánh giá chi tiết tính dễ tổn thương của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) trong giai đoạn 2007 - 2012, so sánh vị thế của ngân hàng với toàn hệ thống và xác định các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, kết hợp các kiến nghị về chính sách vĩ mô của Chính phủ và hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm hạn chế tính dễ tổn thương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tính dễ tổn thương, mức độ ổn định và mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, trọng tâm là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam, đi sâu khảo sát hoạt động thực tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu và Phòng Giao dịch Trần Hưng Đạo.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu thực chứng trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết tài chính - ngân hàng, các hiệp ước an toàn vốn quốc tế và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam:

  • Khái niệm về tính dễ tổn thương: Tác giả xác định tính dễ tổn thương của ngân hàng thương mại là sự nhạy cảm hoặc nguy cơ đổ vỡ trước các biến cố nội sinh và ngoại sinh khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính thiếu ổn định và thiếu an toàn. Trong đó, tính ổn định phản ánh việc duy trì hoạt động liên tục, không xuất hiện biến động đột ngột; tính an toàn phản ánh khả năng bù đắp chi phí và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính thông qua mức độ đủ vốn, chất lượng tín dụng và chất lượng quản trị.
  • Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế:
    • Phương pháp đánh giá xếp hạng sức mạnh tài chính ngân hàng (BFSRs) của Moody's, phân tích thông qua 5 nhân tố chính: lợi thế kinh tế, vị thế rủi ro, môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý và nền tảng tài chính (khả năng sinh lời, thanh khoản, an toàn vốn, hiệu quả hoạt động, chất lượng tài sản).
    • Khung chuẩn mực an toàn vốn của Ủy ban Basel: Hiệp ước Basel I (1988) quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% và phân loại tài sản có rủi ro; Hiệp ước Basel II (2004) bổ sung quy trình giám sát và kỷ luật thị trường; Hiệp ước Basel III thiết lập yêu cầu bổ sung về đệm dự phòng rủi ro tài chính và đệm vốn nghịch chu kỳ (0% - 2,5%) thực hiện theo lộ trình 2013 - 2018 và áp dụng toàn diện vào năm 2019.
  • Khung pháp lý và quy định quản lý tại Việt Nam:
    • Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 quy định mức vốn pháp định 3.000 tỷ đồng đối với ngân hàng thương mại áp dụng đến năm 2010.
    • Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005 quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% và trần sử dụng tối đa 40% nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.
    • Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo 5 nhóm nợ: Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn, trích lập 0%), Nhóm 2 (nợ cần chú ý, trích lập 5%), Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn, trích lập 20%), Nhóm 4 (nợ nghi ngờ, trích lập 50%), Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn, trích lập 100%).
    • Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 và Thông tư số 19/2010/TT-NHNN ngày 27/09/2010 nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) từ 8% lên 9%, đồng thời quy định chặt chẽ về giới hạn tín dụng và quản lý khả năng chi trả.

Phương pháp nghiên cứu thực hiện trong khóa luận:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp và so sánh: Đánh giá biến động các chỉ tiêu tài chính qua các năm giữa ACB và các ngân hàng thương mại tiêu biểu trong hệ thống (Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Techcombank, Sacombank, Eximbank, SHB).
  • Phương pháp thống kê mô tả: Tổng hợp các chuỗi số liệu thứ cấp về huy động vốn, tăng trưởng tín dụng, nợ xấu, hệ số CAR, ROE và ROA.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Phân tích các hiện tượng kinh tế thực tế từ cấp độ toàn ngành để khái quát hóa các nguyên nhân tác động đến mức độ tổn thương của từng định chế cụ thể.

Nguồn dữ liệu sử dụng: Báo cáo thường niên và báo cáo tài chính kiểm toán của Ngân hàng TMCP Á Châu giai đoạn 2007 - 2012; Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu năm 2012 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF); các văn bản pháp luật ngành ngân hàng và dữ liệu công bố trên các phương tiện thông tin chuyên ngành.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng luận về tính dễ tổn thương của các ngân hàng thương mại

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về bản chất và cơ chế phát sinh tính dễ tổn thương trong hoạt động ngân hàng:

  • Nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng: Tính dễ tổn thương bắt nguồn sâu xa từ bản chất hoạt động dựa trên niềm tin công chúng của các định chế tài chính. Các nhân tố nội sinh bao gồm sự mất cân đối kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có (dùng vốn huy động ngắn hạn cho vay trung dài hạn); năng lực quản trị rủi ro thanh khoản; quy trình thẩm định, quản lý và giám sát tín dụng; năng lực quản trị điều hành và vấn đề đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng; tính hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Các nhân tố ngoại sinh bao gồm tính đồng bộ của môi trường pháp lý, biến động lãi suất thị trường, sự điều chỉnh tỷ giá hối đoái và chất lượng của hoạt động thanh tra ngân hàng.
  • Tiêu chuẩn đo lường tính dễ tổn thương: Tác giả phân định hai nhóm tiêu chí đánh giá:
    • Mức độ ổn định: Đo lường qua tốc độ tăng trưởng huy động vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng và sự ổn định của nguồn thu nhập (thông qua các chỉ số khả năng sinh lời ROE, ROA).
    • Mức độ an toàn: Đánh giá thông qua quy mô vốn điều lệ, cấu phần vốn tự có (cấp 1, cấp 2), hệ số an toàn vốn (CAR), tỷ lệ nợ xấu và quy định trích lập dự phòng theo chuẩn mực quốc tế (Moody's, Basel I, II, III) và các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Chương 2: Đánh giá tính dễ tổn thương của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

Chương 2 trình bày bức tranh toàn cảnh về thị trường ngân hàng Việt Nam sau khi gia nhập WTO và tiến hành phân tích thực trạng hoạt động của hệ thống NHTM cùng Ngân hàng TMCP Á Châu giai đoạn 2007 - 2012:

  • Đặc điểm thị trường ngân hàng thời kỳ hội nhập: Ngành ngân hàng đóng góp khoảng 1,8% vào GDP hàng năm, tỷ lệ người trưởng thành tiếp cận dịch vụ đạt 29%. Tính đến ngày 31/12/2012, hệ thống gồm 5 NHTM nhà nước, 34 NHTM cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Xếp hạng chỉ số cạnh tranh (GCI) của Việt Nam theo WEF giảm liên tục: từ vị trí 59/139 (năm 2010) xuống 65/142 (năm 2011) và tiếp tục sụt giảm trong năm 2012, thấp hơn nhiều so với Malaysia (thứ 25), Thái Lan (thứ 38), Indonesia (thứ 50).
  • Đánh giá mức độ ổn định của hệ thống NHTM Việt Nam:
    • Huy động vốn: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn toàn ngành biến động mạnh qua các năm, đạt 47,64% năm 2007; giảm xuống 22,87% năm 2008; phục hồi lên 29,88% năm 2009 và 36,24% năm 2010; sụt giảm còn 12,41% năm 2011 và đạt khoảng 16% năm 2012. Tình trạng chạy đua lãi suất trần và vượt rào lãi suất làm biến dạng thị trường.
    • Cấp tín dụng: Tăng trưởng tín dụng toàn ngành năm 2007 vượt 50%, giảm xuống 25,43% năm 2008 do khủng hoảng tài chính; tăng lên 37,53% năm 2009 nhờ gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4%; đạt 31,19% năm 2010; giảm xuống 14,45% năm 2011 và rơi xuống mức tăng trưởng một con số trong năm 2012.
    • Thu nhập và khả năng sinh lời: Lợi nhuận trước thuế toàn ngành suy giảm nghiêm trọng trong năm 2012. Chỉ tiêu ROE và ROA của các ngân hàng thương mại phân hóa rõ nét và biến động không ổn định.
Chỉ tiêu ROE trước thuế (%) 2007 2008 2009 2010 2011 2012
ACB 53,80 36,70 31,80 28,90 36,00 8,50
Vietcombank 19,23 19,74 25,58 22,55 17,08 12,61
Sacombank 25,64 13,14 16,56 15,04 14,60 7,15
Techcombank 22,98 25,87 26,86 24,90 28,87 5,58
Vietinbank 14,10 15,70 20,60 22,10 26,74 19,90
Eximbank 11,26 7,43 8,65 13,51 20,39 13,30
SHB 27,10 12,70 17,80 22,60 22,50 23,90
Chỉ tiêu ROA trước thuế (%) 2007 2008 2009 2010 2011 2012
ACB 3,30 2,60 2,10 1,70 1,70 0,50
Vietcombank 1,31 1,29 1,64 1,50 1,25 1,13
Sacombank 2,91 1,49 1,79 1,50 1,44 0,68
Techcombank 1,99 1,65 2,24 1,90 1,83 0,42
Vietinbank 1,01 1,35 1,54 1,50 2,03 1,70
Eximbank 1,78 1,74 1,99 1,85 1,93 1,20
SHB 2,60 2,10 2,35 1,90 1,75 1,95
  • Đánh giá mức độ an toàn của hệ thống NHTM và ACB:
    • Vốn điều lệ: Tính đến 31/12/2010, còn 9 NHTM chưa đáp ứng quy định vốn pháp định 3.000 tỷ đồng (Bảo Việt, Việt Á, Nam Việt, Phương Tây, Xăng Dầu, Đệ Nhất, Gia Định, Sài Gòn Công Thương, Phương Đông) và đến cuối năm 2012 vẫn còn 2 ngân hàng chưa hoàn thành. ACB duy trì tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ trung bình 36%/năm trong giai đoạn 2007 - 2012.
    • Hệ số an toàn vốn (CAR): Hầu hết các ngân hàng duy trì trên 9%, riêng ACB đạt mức an toàn cao trong nhiều năm nhưng có sự biến động lớn giữa các giai đoạn.
    • Tỷ lệ nợ xấu: Nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng năm 2007 là 2,1%, năm 2008 lên 3,6%, năm 2009 là 2,46%, năm 2010 là 2,5% (hoặc 3,2% nếu tính cả nợ từ tập đoàn Vinashin), năm 2011 lên 3,39% và năm 2012 tăng vọt lên 8,82%. Tại ACB, tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2007 - 2011 được kiểm soát dưới 1% (thấp nhất là 0,08% năm 2007, 0,89% năm 2011), nhưng sang năm 2012 đã tăng lên 2,50%.
Hệ số CAR (%) 2007 2008 2009 2010 2011 2012
ACB 16,19 12,44 9,74 10,60 9,25 13,52
Sacombank 11,07 12,16 11,41 9,50 11,66 9,53
Techcombank 14,30 13,99 9,60 13,11 11,43 12,60
Eximbank 27,00 45,89 26,87 17,79 12,94 16,38
Vietinbank 11,62 12,02 8,06 8,02 10,57 10,33
Vietcombank 9,20 8,90 8,11 9,00 11,14 14,83
BIDV 6,70 6,62 7,55 9,32 11,07 8,70
Tỷ lệ nợ xấu (%) 2007 2008 2009 2010 2011 2012
ACB 0,08 0,89 0,41 0,34 0,89 2,50
Vietcombank 3,87 4,61 2,47 3,50 2,03 2,40
Vietinbank 1,02 1,58 0,61 0,66 0,75 2,57
BIDV 3,98 2,71 2,82 2,96 2,71 2,90
Techcombank 1,38 2,52 2,49 2,29 2,82 2,70
Sacombank 0,24 0,62 0,69 0,52 0,56 2,39
Eximbank 0,88 4,71 1,82 1,42 1,61 1,32
  • Thực trạng nhân sự và pháp lý: Tác giả chỉ ra năng lực thẩm định độc lập của cán bộ tín dụng còn hạn chế, hiện tượng vi phạm đạo đức nghề nghiệp gia tăng. Khung pháp lý xử lý tài sản đảm bảo còn nhiều vướng mắc: thủ tục sang tên trước bạ cần sự đồng ý của chủ tài sản; việc phát mại tài sản của doanh nghiệp nhà nước hoặc đất đai gắn liền với quyền sử dụng đất gặp rào cản hành chính và thiếu cơ chế cưỡng chế thi hành án hiệu quả.

Chương 3: Các giải pháp hạn chế tính dễ tổn thương cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Giải pháp từ phía Ngân hàng TMCP Á Châu:
    • Xây dựng chiến lược đáp ứng hệ số an toàn vốn CAR theo chuẩn mực Basel III, thiết lập quỹ vốn đệm dự phòng rủi ro tài chính và vốn đệm phòng ngừa suy giảm theo chu kỳ kinh tế.
    • Hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro kinh doanh: kiểm soát cân đối kỳ hạn tài sản nợ - có để phòng ngừa rủi ro thanh khoản; siết chặt quy trình thẩm định tín dụng, giảm sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp và giám sát chặt chẽ mục đích sử dụng vốn vay; tăng cường hệ thống kiểm tra và kiểm soát nội bộ.
    • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phân tích tài chính và quản trị rủi ro, đồng thời thắt chặt kỷ luật đạo đức nghề nghiệp.
  • Giải pháp hỗ trợ từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:
    • Hoàn thiện chính sách vĩ mô: ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát lạm phát và điều hành lãi suất, tỷ giá linh hoạt, minh bạch.
    • Hoàn thiện khung khổ pháp lý: sửa đổi và đồng bộ hóa các quy định liên quan đến phát mại tài sản thế chấp, xử lý nợ xấu và cơ chế chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi xử lý tài sản bảo đảm.
    • Tăng cường vai trò giám sát: nâng cao chất lượng và tính chủ động của cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng, hỗ trợ quá trình tái cấu trúc hệ thống tín dụng theo chuẩn mực quốc tế.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu thực chứng:
    • Cung cấp dữ liệu chi tiết phản ánh tính bất ổn trong tăng trưởng huy động và cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam sau gia nhập WTO, chỉ rõ sự sụt giảm hiệu quả kinh doanh trong năm 2012 (ROE của ACB giảm từ 53,80% năm 2007 xuống 8,50% năm 2012; ROA giảm từ 3,30% xuống 0,50%).
    • Chứng minh hệ số CAR của ACB luôn đáp ứng quy định của NHNN (duy trì trên ngưỡng 9% qua các năm và đạt 13,52% vào năm 2012), nhưng tỷ lệ nợ xấu có xu hướng gia tăng mạnh lên 2,50% vào năm 2012 do ảnh hưởng suy thoái kinh tế và bất cập nội tại trong quản trị tín dụng.
    • Làm rõ các bất cập trong xử lý tài sản bảo đảm và rủi ro đạo đức nghề nghiệp cán bộ tín dụng như những nhân tố làm gia tăng tính dễ tổn thương.
  • Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn:
    • Hệ thống hóa khung phân tích tính dễ tổn thương của ngân hàng thương mại dựa trên sự tích hợp giữa các chỉ tiêu đo lường tính ổn định và tính an toàn.
    • Đề xuất định hướng áp dụng chuẩn mực Basel III đối với một ngân hàng thương mại cổ phần cụ thể tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi quản trị rủi ro.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở mốc thời gian tháng 07/2012 dựa trên báo cáo tài chính công khai và thông tin thứ cấp; chưa tiếp cận được toàn diện dữ liệu quản trị nội bộ chi tiết về từng nhóm khách hàng và danh mục tài sản rủi ro của toàn hệ thống ACB.
    • Khảo sát thực tế tập trung tại đơn vị thực tập là Phòng Giao dịch Trần Hưng Đạo, chưa phản ánh đầy đủ đặc thù hoạt động tại các chi nhánh thuộc các địa bàn kinh tế khác nhau.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu mở rộng mô hình kiểm định định lượng tác động của các chỉ số an toàn vốn theo Basel III đến hiệu quả tài chính của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.
    • Phân tích chuyên sâu về cơ chế lan truyền rủi ro thanh khoản giữa các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị rủi ro tài chính, Kinh tế học ứng dụng và các nhà nghiên cứu về hệ thống tài chính Việt Nam.
  • Nội dung có giá trị sử dụng cao:
    • Chương 1 cung cấp khung lý thuyết hệ thống về các nhân tố cấu thành tính dễ tổn thương và phương pháp tiếp cận theo chuẩn mực Basel và Moody's.
    • Chương 2 cung cấp hệ thống số liệu thống kê so sánh giai đoạn 2007 - 2012 về nợ xấu, CAR, ROE, ROA, vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại tiêu biểu tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  • Tính dễ tổn thương của ngân hàng thương mại được tác giả định nghĩa như thế nào trong khóa luận? Tính dễ tổn thương là sự nhạy cảm hoặc nguy cơ đổ vỡ của các ngân hàng thương mại trước các biến cố nội sinh và ngoại sinh khi ngân hàng đối mặt với tình trạng tài chính thiếu ổn định và thiếu an toàn trong hoạt động kinh doanh.

  • Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN được trích dẫn trong đề tài, các nhóm nợ và mức trích lập dự phòng được quy định ra sao? Quy định phân chia nợ thành 5 nhóm: Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn, trích lập 0%), Nhóm 2 (nợ cần chú ý, trích lập 5%), Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn, trích lập 20%), Nhóm 4 (nợ nghi ngờ, trích lập 50%) và Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn, trích lập 100%). Nợ xấu được xác định từ Nhóm 3 đến Nhóm 5.

  • Tỷ lệ nợ xấu và hệ số an toàn vốn (CAR) của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) trong năm 2012 đạt mức bao nhiêu? Theo số liệu tổng hợp trong khóa luận, năm 2012, hệ số CAR của ACB đạt 13,52% (đáp ứng quy định tối thiểu 9% của Thông tư 13/2010/TT-NHNN) và tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng ở mức 2,50%.

  • Khóa luận chỉ ra những rào cản pháp lý chủ yếu nào trong việc phát mại tài sản đảm bảo của các ngân hàng thương mại? Các rào cản chính gồm: thủ tục sang tên trước bạ bắt buộc phải có sự đồng ý của chủ tài sản; việc xử lý tài sản của doanh nghiệp nhà nước phải qua nhiều cấp chủ quản hoặc tòa án; cơ quan công chứng từ chối công chứng hợp đồng mua bán tài sản phát mại; cơ chế thi hành án dân sự còn chậm và các vướng mắc về quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thế chấp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Thị Ngọc Giàu đã làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng tính dễ tổn thương của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cùng Ngân hàng TMCP Á Châu trong giai đoạn 2007 - 2012. Thông qua các chuỗi số liệu về huy động, tín dụng, lợi nhuận, an toàn vốn và nợ xấu, công trình chỉ ra rằng sự tăng trưởng quá nóng kết hợp với biến động kinh tế vĩ mô và bất cập quản trị nội bộ đã làm gia tăng đáng kể rủi ro hệ thống. Các giải pháp được đề xuất về áp dụng chuẩn mực Basel III, kiểm soát chất lượng tín dụng và hoàn thiện khung pháp lý xử lý tài sản bảo đảm mang tính ứng dụng thực tiễn cho công tác quản trị rủi ro ngân hàng.