Đặt vấn đề Đất đai là nguồn lực quan trọng của bất cứ một nền sản xuất nào. Với nền sản xuât nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp cung như sự tồn tại của con người. Ở nước ta vấn đề đất đai luôn được Đảng và nhà nước quan tâm. Quản lý và sử dụng đầy đủ đất đai là mục tiêu cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.Nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tích cực Mặc dù vấn đề đất đai luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Nhưng, trong thực tế quá trình sử dụng cũng như quan hệ đất đai có nhiều biến động, vì vậy vấn đề giải quyết tranh chấp đất, khiếu nại về đất đai ngày càng trở nên bức xúc và phức tạp. Trong thực tế và trong nhiều trường hợp, vấn đề giải quyêt tranh chấp khiếu nại về đất đai cho các đối tượng sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn và phức tạp, nên trong thực tế đời sống xã hội vẫn còn nảy sinh những vấn đề cần được bổ sung và giải quyết. Giải quyết tranh chấp, khiếu nại đất đai tuy chỉ là một trong những công tác quản lý do cơ quan Nhà nước thực hiện nhằm giải quyết ổn thoả với các bên khi có xảy ra mâu thuẫn trong sử dụng đất đai, nhưng nó liên quan đến nhiều vấn đề phức tạp thuộc vềp pháp luật và những quan hệ xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích thiết thân của các tổ chức, cánhân, vì vậy được mọi người rất quan tâm. Làm tốt công tác giải quyết tranh chấp, khiếu kiện đất đai sẽ giúp cho Nhà nước củng cố quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật, xác lập mối quan hệ chặt chẽ hơn mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng đất và giữa những người sử dụng đất với nhau.
Tạo điều kiện cho việc sử dụng đất đai một cách ổn định, đầy đủ, hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất. Nước ta đang trong quát rình đẩy mạnh Công nghiệp hoá -Hiện đại hoá, cơ cấu kinh tế n 2 chuyển dịch theo hướng tích cực. Thị trường đất đai mới từng bước được hình thành và hoàn thiện. Thực tế đó làm cho quá trình sử dụng đất cũng như những quan hệ đất đai có nhiều biến động phức tạp liên quan trực tiếp đến lợi ích của mọi người.
Vì vậy việc thực hiện công tác giải quyết tranh chấp, khiếu kiện đất đai càng trở nên bức xúc và phức tạp. Luật đất đai năm 2013 cùng các văn bản pháp luật khác có liên quan đến đất đai ở nước ta là cơ sở cho công tác giải quyết tranh chấp khiếu kiện đất đai được thuận lợi. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều trường hợp, vấn đề giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Trong đó có nguyên nhân không nắm vững pháp luật của người sử dụng, không thực hiện đúng thẩm quyền và trình độ chưa bắt kịp với thực tế cuộc sống của cán bộ Nhà nước có trach nhiệm giải quyết tranh chấp, hệ thống pháp lý về vấn đề này còn nhiều bất cập… Tủa Chùa là một huyện thuộc tỉnh Điện biên được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của huyện Tủa Chùa.
Trong những năm gần đây công tác quản lý nhà nước về đất đai đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Song bên cạnh đó cũng có những mặt tồn tại. Đặc biệt là những mâu thuẫn về đất đai trong nhân dân, việc giải quyết tháo gỡ các mâu thuẫn đất đai cũng đang gặp nhiều khó khăn. Xuất phát từ thực tế đó, được sự nhất trí của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài Nguyên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo Th.s Nguyễn Minh Cảnh tôi đã thực hiện nghiên cưu đề tài “ Đánh giá thực trạng công tác giải quyết tranh chấp về đất đai tại huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012 – 2014 ” 1.
Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu những quy định của nhà nước, của nghành, của địa phương về công tác giải quyết tranh chấp,khiếu nại, tố cáo về đất đai. n 3 - Tìm hiểu việc thực hiện pháp luật đất đai của huyện Tủa Chùa, trong đó đi sâu vào tìm hiểu công tác giải quyết tranh chấp về đất đai trong giai đoạn từ năm 2012–4 / 2014 - Từ thực trạng về tình hình thực hiện luật đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Tủa Chùa. - Đánh giá được công tác giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Tủa Chùa trong giai đoạn từ năm 2012–4 / 2014. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập: Giúp sinh viên củng cố những kiến thức đã học trong Nhà trường và bước đầu áp dụng vào thực tiễn phục vụ yêu cầu công việc sau khi ra trường.
- Ý nghĩa thực tiến: Trên cơ sở thu thập, đánh giá, phân tích công tác giải quyết TCĐĐ biết được hiện trạng của công tác này từ đó đóng góp, đề xuất ý kiến góp phần giải quyết các khó khăn của hiện trạng trên, nâng cao hiệu quả trong công tác giải quyết TCĐĐ. Yêu cầu của đề tài -Số liệu thu thập phân tích chính xác, phản ánh trung thực khách quan công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai. - Nắm chắc luật Đất đai 2013 và các văn bản pháp luật có liên quan,các văn bản của ngành và của tỉnh Điện Biên về công tác giải quyết tranh chấp về đất đai. - Đảm bảo những kiến nghị, đề xuất phù hợp với địa phương - Tổng hợp được kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Tủa Chùa trong giai đoạn 2012 – 2014.
- Tiếp cận thực tế công việc để nắm được quy trình, trình tự giải quyết tranh chấp về đất đai. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở pháp lý - Luật Đất đai 2013 và 2003 - Luật Tố tụng Dân sự 2004. - Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998.
- Nghị định 43/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Đất đai 2013. - Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về giá đất. - Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất. - Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước - Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về GCNQSDĐ, QSHNƠ, và tài sản khác gắn liền với đất. - Thông tư 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 Quy định về Thống kê, kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất. - Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998. - Nghị định 181/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003.
- Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. - Nghị định 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 quy định chi tiết một số điều của pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. n 5 - Thông tư số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03 tháng 01 năm 2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính hướng dẫn về thẩm quyền của toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất. - Công văn số 116 của Tòa án nhân dân tối cao ngày 22/7/2004.
Cơ sở khoa học 2. Khái niệm về tranh chấp. Theo khoản 24,Điều 3 Luật Đất đai 2013 thì: “ tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai ”. ( Luật Đất đai 2013 ) “Tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất”.
Trong thực tế, TCĐĐ được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được hưởng quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ. Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trình tự giải quyết tranh chấp - Điều 202 Luật Đất đai 2013 quy định về hòa giải TCĐĐ như sau: 1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành n 6 viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.