Tổng quan nghiên cứu

Dịch vụ logistics vận tải đóng vai trò huyết mạch trong nền kinh tế quốc dân, kết nối toàn diện chuỗi cung ứng từ sản xuất đến phân phối tiêu dùng. Tại Việt Nam, chi phí logistics hiện chiếm tỷ trọng tương đối cao, dao động khoảng 16% đến 20% GDP, tạo nên rào cản đáng kể cho năng lực cạnh tranh hàng hóa xuất nhập khẩu. Đặc biệt, cấu trúc thị phần vận tải nội địa đang chứng kiến sự mất cân đối nghiêm trọng khi vận tải đường bộ gánh vác hơn 70% tổng khối lượng hàng hóa, bất chấp chi phí vận chuyển đường bộ cao gấp 9,7 lần so với đường biển và gấp 2,5 lần so với đường sắt trên cùng trục vận chuyển Bắc - Nam.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ những biến động sâu sắc của thị trường logistics giai đoạn 2020 - 2021, thời điểm đại dịch toàn cầu làm đứt gãy chuỗi cung ứng, gây thiếu hụt container rỗng và đẩy giá cước vận tải biển quốc tế lên cao kỷ lục. Mục tiêu cụ thể của đề tài là phân tích toàn diện thực trạng hoạt động dịch vụ logistics của 5 phương thức vận tải chủ đạo (đường bộ, đường biển, hàng không, đường sắt, đường thủy nội địa); từ đó bóc tách các điểm nghẽn về hạ tầng, cước phí và năng lực khai thác.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế Việt Nam trong mốc thời gian 2020 - 2021, có liên hệ số liệu giai đoạn 2016 - 2022. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa các chỉ số hiệu quả vận hành, xác lập cơ sở khoa học để thúc đẩy mục tiêu quốc gia nhằm giảm chi phí logistics xuống mức 14% - 16% GDP, đồng thời tăng tỷ trọng dịch vụ vận tải biển và đường thủy nội địa thêm 15% - 20% trong cơ cấu giao nhận hàng hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển logistics 5 giai đoạn của chuyên gia Edward Frazelle (2002), bao gồm: Logistics tại nơi tác nghiệp (Workplace Logistics), Logistics tại nơi sản xuất (Facility Logistics), Logistics trong doanh nghiệp (Corporate Logistics), Logistics trong chuỗi cung ứng (Supply Chain Logistics) và Logistics toàn cầu (Global Logistics). Khung lý thuyết này giúp định vị chính xác mức độ trưởng thành của các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng nguyên lý "5 Đúng" (Five Rights) của Douglas M. Lambert làm thước đo chất lượng vận hành: đúng sản phẩm, đúng địa điểm, đúng thời điểm, đúng điều kiện và đúng chi phí. Kết hợp cùng quan điểm quản trị chuỗi cung ứng hiện đại của Ma Shou (1999) và khung pháp lý tại Điều 233 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, hệ thống khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: dịch vụ logistics trọn gói, vận tải đa phương thức, điểm thông quan nội địa (Inland Container Depot - ICD), hàng nguyên container (FCL), hàng lẻ (LCL) và các điều kiện thương mại quốc tế phổ biến như CIF, FOB, CFR.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê, Cục Hàng hải Việt Nam, Bộ Giao thông Vận tải và báo cáo chuyên ngành của hơn 120 doanh nghiệp logistics tiêu biểu trong chuỗi thời gian 2016 - 2021.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được triển khai trên quy mô hơn 80 doanh nghiệp vận tải và cảng biển tại 3 miền Bắc - Trung - Nam, tập trung vào các trung tâm đầu mối như Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp so sánh chuỗi thời gian (time-series analysis) nhằm bóc tách biến động sản lượng hàng tháng, phản ánh chân thực tác động của dịch bệnh đến năng lực vận chuyển. Tiến độ nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt giai đoạn 2021 - 2022, đảm bảo tính cập nhật và độ tin cậy của toàn bộ hệ thống số liệu đầu vào.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, vận tải đường biển quốc tế duy trì mức tăng trưởng ấn tượng bất chấp khủng hoảng chuỗi cung ứng. Trong 9 tháng đầu năm 2021, tổng sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam ước đạt 60,82 triệu tấn, tăng 2,2% so với mức 59,5 triệu tấn của cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, sự gia tăng đột biến của giá cước và tình trạng thiếu hụt container rỗng đã khiến chi phí logistics cho các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực tăng vọt từ 30% đến 45%.

Thứ hai, sự mất cân đối thị phần và gánh nặng chi phí từ vận tải đường bộ. Đường bộ tiếp tục chiếm trên 70% tổng lượng luân chuyển hàng hóa toàn quốc. Giá cước vận chuyển một container loại 40 feet từ Hà Nội vào TP. Hồ Chí Minh ghi nhận mức xấp xỉ 40 triệu VNĐ, đắt gấp 9,7 lần so với vận chuyển bằng đường biển và gấp 2,5 lần so với vận tải đường sắt. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nhiên liệu, phí cầu đường BOT và tỷ lệ xe chạy rỗng chiều về còn ở mức cao.

Thứ ba, sự phân hóa sâu sắc trong phân khúc vận tải hàng không. Hoạt động vận chuyển hàng hóa đường hàng không 9 tháng năm 2021 chỉ đạt 270,9 nghìn tấn, giảm 23% so với cùng kỳ năm trước do các lệnh hạn chế bay quốc tế. Ngược lại, sản lượng luân chuyển hàng hóa lại đạt tới 3,34 tỷ tấn.km, tăng trưởng ấn tượng 24,9% so với năm 2020. Kết quả này phản ánh sự chủ động thích ứng của các hãng bay như Vietnam Airlines, Vietjet Air khi tháo ghế máy bay chở khách để chuyển đổi sang cấu hình chuyên chở hàng hóa (freighter) phục vụ thương mại điện tử xuyên biên giới.

Thứ tư, bất lợi lớn từ tập quán thương mại quốc tế. Hơn 80% doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam vẫn duy trì thói quen mua CIF bán FOB. Thực trạng này khiến các doanh nghiệp trong nước mất quyền chủ động đàm phán giá cước và lựa chọn hãng tàu, dẫn đến việc bị các hãng vận tải ngoại áp đặt nhiều khoản phụ phí bất hợp lý tại các cụm cảng lớn.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua biểu đồ diễn biến sản lượng vận tải 12 tháng giai đoạn 2020 - 2021, đồ thị thể hiện rõ nét điểm rơi sâu vào quý II và quý III năm 2021 do ảnh hưởng từ các đợt giãn cách xã hội nghiêm ngặt. Sự tắc nghẽn cục bộ tại cụm cảng Cát Lái (TP. Hồ Chí Minh) đã bộc lộ điểm yếu lớn về kết nối hạ tầng sau cảng, khi hệ thống giao thông đường bộ xung quanh không đáp ứng kịp lưu lượng container tăng đột biến.

So sánh giữa các phương thức, vận tải đường biển tuyến Bắc - Nam sở hữu ưu thế vượt trội khi giá cước rẻ hơn 50% so với đường bộ, nhưng thời gian hành trình lại kéo dài gấp 3 đến 5 lần. Việc các chủ hàng vẫn ưu tiên chọn đường bộ xuất phát từ năng lực kết nối trực tiếp "từ cửa đến cửa" (door-to-door), khả năng linh hoạt thời gian và mạng lưới cảng cạn ICD chưa phân bố đồng đều.

Những phát hiện này chỉ ra rằng, nếu không giải quyết dứt điểm nút thắt kết nối liên phương thức giữa đường biển, đường sắt và đường bộ, chi phí logistics quốc gia sẽ tiếp tục bào mòn từ 3% đến 5% biên lợi nhuận ròng của các doanh nghiệp sản xuất trong nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa dịch vụ logistics vận tải tại Việt Nam:

  • Hoàn thiện kết nối hạ tầng giao thông đa phương thức: Bộ Giao thông Vận tải cùng các địa phương cần đẩy nhanh tiến độ thi công tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông và các trục kết nối trực tiếp vào cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải, Lạch Huyện. Mục tiêu đến năm 2025 nâng tỷ lệ kết nối đường sắt và đường bộ cao tốc vào các cảng biển loại I lên trên 85%, giảm 25% thời gian lưu chuyển hàng hóa liên vùng.
  • Phát triển sàn giao dịch vận tải hàng hóa số hóa: Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương xây dựng nền tảng sàn giao dịch vận tải tích hợp đa phương thức trong giai đoạn 2023 - 2024. Giải pháp này hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ xe tải chạy rỗng chiều về từ mức trên 40% hiện nay xuống dưới 20%, giúp hạ giá thành cước vận chuyển đường bộ từ 12% đến 15%.
  • Chuyển đổi tập quán thương mại sang Mua FOB Bán CIF: Các hiệp hội ngành hàng nông sản, thủy sản, dệt may cần phối hợp tổ chức các chương trình đào tạo nghiệp vụ thương mại quốc tế từ năm 2023 đến 2026. Mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp xuất khẩu tự chủ quyền đàm phán vận tải lên 35% - 40%, giảm thiểu các khoản phụ phí bất hợp lý từ các hãng tàu nước ngoài.
  • Nâng cao năng lực đội tàu biển quốc tế và nguồn nhân lực chuyên sâu: Cục Hàng hải Việt Nam cùng các doanh nghiệp vận tải biển cần triển khai gói cơ chế ưu đãi tài chính đóng mới tàu container chuyên dụng đến năm 2030, hướng tới mục tiêu đội tàu Việt Nam đảm nhận 20% - 25% thị phần vận tải xuất nhập khẩu; đồng thời đào tạo mới trên 50.000 chuyên viên logistics đạt chứng chỉ chuẩn quốc tế FIATA.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Doanh nghiệp xuất nhập khẩu và chủ hàng: Nắm bắt chi tiết cơ cấu chi phí giữa các phương thức vận tải để chủ động lập kế hoạch chuyển dịch hàng hóa từ đường bộ sang đường biển/đường sắt, giúp tiết kiệm từ 30% đến 50% ngân sách giao nhận cho các tuyến dài.
  • Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics (LSP): Tiếp cận bức tranh toàn cảnh về thị trường, từ đó hoạch định chiến lược đầu tư hệ thống kho bãi, phát triển dịch vụ giao hàng chặng cuối và mở rộng mạng lưới liên kết vận tải đa phương thức.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Sử dụng hệ thống dữ liệu thực chứng làm căn cứ điều chỉnh quy hoạch mạng lưới cảng cạn ICD, xây dựng cơ chế giám sát phụ phí cảng biển và ban hành chính sách hỗ trợ phục hồi ngành hàng không, hàng hải.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Kinh tế Vận tải - Logistics: Tham khảo nguồn học liệu giá trị về khung lý thuyết 5 giai đoạn phát triển logistics của Edward Frazelle và bộ dữ liệu biến động chuỗi cung ứng giai đoạn 2020 - 2021 tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao vận tải đường bộ tại Việt Nam chiếm thị phần áp đảo dù chi phí cao gấp nhiều lần đường biển?
Vận tải đường bộ chiếm trên 70% thị phần nhờ tính cơ động vượt trội, khả năng nhận và giao hàng trực tiếp tận nơi mà không đòi hỏi bốc dỡ trung gian. Dù cước container 40 feet tuyến Hà Nội – TP. Hồ Chí Minh lên tới khoảng 40 triệu VNĐ (cao gấp 9,7 lần đường biển), chủ hàng vẫn ưu tiên lựa chọn phương thức này để rút ngắn thời gian giao hàng nhanh hơn từ 3 đến 5 lần.

Đại dịch Covid-19 trong giai đoạn 2020 - 2021 đã tác động như thế nào đến ngành vận tải biển Việt Nam?
Ngành vận tải biển chịu áp lực lớn từ sự đứt gãy lịch trình tàu mẹ, thiếu hụt vỏ container rỗng và ùn ứ hàng hóa tại cụm cảng Cát Lái khiến phụ phí tăng mạnh. Tuy nhiên, sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển 9 tháng đầu năm 2021 vẫn đạt mức 60,82 triệu tấn, tăng 2,2% so với năm 2020 nhờ việc điều phối linh hoạt các luồng tuyến hàng xuất nhập khẩu.

Các hãng hàng không trong nước đã áp dụng giải pháp nào để ứng phó với tình trạng sụt giảm vận tải hành khách?
Khi khối lượng vận chuyển hàng hóa 9 tháng năm 2021 giảm 23% (đạt 270,9 nghìn tấn), các hãng hàng không nội địa đã tháo ghế khoang khách để tăng diện tích chuyên chở hàng hóa. Giải pháp sáng tạo này giúp nâng sản lượng luân chuyển hàng không tăng trưởng 24,9%, chạm mốc 3,34 tỷ tấn.km trong giai đoạn cao điểm dịch bệnh.

Vì sao việc duy trì thói quen mua CIF bán FOB lại gây bất lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam?
Thói quen duy trì trên 80% giao dịch dạng mua CIF bán FOB khiến doanh nghiệp trong nước mất hoàn toàn quyền chỉ định nhà vận tải và cơ hội đàm phán giá cước. Hậu quả là các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam thường xuyên rơi vào thế bị động và chịu thêm các khoản phụ phí bất hợp lý do các hãng tàu quốc tế áp đặt.

Khung lý thuyết 5 giai đoạn phát triển logistics của Edward Frazelle được ứng dụng như thế nào trong luận văn?
Khung lý thuyết đóng vai trò chuẩn mực phân tích để đánh giá hiện trạng doanh nghiệp logistics Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng đa số doanh nghiệp nội địa mới chỉ dừng lại ở cấp độ Logistics nơi sản xuất hoặc Logistics trong doanh nghiệp, đòi hỏi phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để nâng tầm lên cấp độ Logistics chuỗi cung ứng và Logistics toàn cầu.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng 5 phương thức logistics vận tải tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2021, làm sáng tỏ các điểm nghẽn về hạ tầng và chi phí.
  • Lượng hóa rõ nét sự mất cân đối thị phần khi đường bộ gánh trên 70% sản lượng nhưng cước phí cao gấp 9,7 lần đường biển trên trục Bắc - Nam.
  • Ghi nhận nỗ lực thích ứng vượt bậc của ngành cảng biển (đạt 60,82 triệu tấn trong 9 tháng năm 2021) và ngành hàng không (luân chuyển tăng 24,9%).
  • Xác lập 4 nhóm giải pháp đồng bộ về phát triển hạ tầng kết nối, sàn giao dịch vận tải số, chuyển đổi tập quán thương mại và đào tạo nhân lực chuẩn FIATA.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, định hướng lộ trình thực hiện đến năm 2025 và tầm nhìn 2030 cho các nhà quản trị logistics, doanh nghiệp xuất nhập khẩu cùng các cơ quan quản lý chuyên ngành.