Chương 1, ly do hình thành nghiên cứu cùng với các câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu,. Chương 2 sẽ trình bày tông quan một sô nghiên cứu trước day co liên quan đên nội dung của dé tài nghiên cửu. Bên cạnh đỏ, các ly thuyết được áp dụng và định nghĩa một số thuật ngữ trong nghiên cứu cũng được giới thiệu.1 bên dưới thé hiện lược đô cau trúc Chương 2: y Thay đôi thiết kê Vv Giai đoạn thi công ¡Định nghĩa một sô thuật _nøữ trong nghiên cứu - Thiết ké-dau thau-thi công ¡Thiết ké-thi công Công trình xây dựng dân dụng TCQ2OHƯUNƠ:AG y và công nghiệp y Phương pháp định lượng AHP _/Cac ly thuyết sử dụng Vv Ly thuyét mo trong nghiên cứu Vv Tich hop AHP va ly thuyét mo Cac nguyên nhân, Vv nhóm nguyên nhân dân đên - Tổng quan các nghiên cứu sự thay đôi thiệt kê tương tự trước đây y Mô hình FAHP Hình 2.1 — Lược đồ câu trúc Chương 2 HVTH: Pham Võ Duy Thanh GVHD: TS. Lé Hoai Long 2.1 Thay đối thiết kế Thay đổi thiết kế là những thay đổi liên quan đến các tiêu chuẩn kỹ thuật, ban vẽ thiết kế đã được chủ đầu tư phê duyệt trước khi thi công công trình.
Hwang và ces (2009) [4] đã định nghĩa thay đổi thiết kế (design change) là kết quả dẫn đến các sự thay đối đã được làm trong thiết kế của dự án hoặc các yêu cầu (requirement). Những thay đổi nay diễn ra trong giai đoạn công trình đang được thi công xây dựng và đã làm thay đổi tiễn độ thi công dự kiến của công trình.2 Giai đoạn thi công Giai đoạn thi công là giai đoạn hình thành nên sản phẩm xây dựng đảm bảo đúng như bản vẽ thiết kế với các tiêu chuẩn kỹ thuật đã dé ra. Giai đoạn thi công xây dựng có thể sau khi thiết kế đã hoàn thành (phương pháp thực hiện dự án thiết ké-dau thau-thi công) hoặc sau khi hoàn thành 1 phan của thiết kế (phương pháp thực hiện dự án thiết kế-thi công). Thiết ké-dau thau-thi công và thiết kế-thi công a) Thiết ké-dau thau-thi công Theo truyền thống, hoạt động xây dựng thực tế sẽ không bắt đầu cho đến khi bản vẽ thiết kế cuối cùng được hoàn thành (Hale va ccs, 2009) [6].
Đây là một phương thức thực hiện truyền thông có sự phân chia giữa các nhóm liên quan trong việc thực hiện dự án: nhóm thiết kế và nhóm thi công. - _ Nhóm thiết kế gồm: kiến trúc sư, kỹ sư, các chuyên gia khác chuẩn bị thiết kế, các bản vẽ và các tải liệu hợp đồng. - - Nhóm thi công gồm: nhà thầu, thầu phụ xây dựng và nha thầu cung cấp vật tư, máy móc thiết bị cần thiết cho công trình. b) Thiết kế-thi công Thiết kế-thi công là phương thức thực hiện dự án do một nhà thầu hoặc liên danh các nhà thầu chịu trách nhiệm theo hợp đồng cả vẻ thiết kế lẫn thi công cho toàn bộ dự án (Hale và ccs, 2009) [6].
HVTH: Phạm Võ Duy Thanh GVHD: TS. Lé Hoai Long 9 2.4 Công trình xây dung dan dụng và công nghiệp Nghị định 209/2004/NĐ-CP nêu rõ khái niệm này như sau: a) Công trình dan dụng Nhà ở gồm: nhà chung cư và nhà riêng lẻ. Công trình công cộng gồm: công trình văn hóa; công trình giáo dục; công trình y té: công trình thương nghiệp, dich vụ; nhà làm việc; khách sạn, nhà khách; nhà phục vụ giao thông; nhà phục vụ thông tin liên lạc, tháp thu phát sóng phát thanh, phát sóng truyền hình; nha ga, bến xe; công trình thé thao các loại. b) Công trình công nghiệp Gồm: công trình khai thác than, khai thác quặng: công trình khai thác dau, khí; công trình hoá chat, hóa dau; công trình kho xăng, dau, khí hoá lỏng và tuyến ống phân phối khí, dau; công trình luyện kim; công trình cơ khí, chế tạo; công trình công nghiệp điện tử - tin học; công trình năng lượng; công trình công nghiệp nhẹ; công trình công nghiệp thực phẩm; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng: công trình sản xuất và kho chứa vật liệu nỗ công nghiệp.3 Các lý thuyết, mô hình ứng dụng trong nghiên cứu 2.1 Phương pháp AHP (Analytical Hierarchy Process) a) Nguồn gốc phương pháp định lượng AHP AHP là một phương pháp định lượng được dé xuất bởi Saaty vào năm 1977 nhăm giải quyết những vẫn dé không có cau trúc trong hoạt động kinh tế, xã hội va khoa học quản lý.
Nó cung cấp một phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn đơn giản, nhưng có cơ sở lý thuyết trong việc đánh giá các phương án. Nó giúp phân loại mức độ ưu tiên tương đối cho các phương án được đưa ra dựa trên một mức tỉ lệ (1M. Mức tỉ lệ này dựa trên phán đoán của người ra quyết định và mức độ quan trọng của các phán đoán đó, cũng như tính nhất quán trong việc so sánh các phương án trong quá trình ra quyết định. Hiện nay, phương pháp AHP có thể được ứng dụng để đánh giá và chọn lựa các phương án HVTH: Phạm Võ Duy Thanh GVHD: TS.
Lé Hoai Long 10 dựa vào tỉ số sắp hạng cho mỗi phương án quyết định theo các tiêu chí được thiết lập trước. Theo Bevilacqua, AHP là công cụ ra quyết định linh hoạt và đủ sức mạnh để giải quyết những van dé phức tạp mà cần xem xét cả khía cạnh định lượng cũng như định tính. AHP giúp phân tích dé tô chức những tiêu chuẩn thành một thứ bậc gidng như cấu trúc cây thư mục. Tiếp tục phát triển những nghiên cứu của Belton, Golden, Murahdar; Taylor đã miêu tả AHP là một phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn dựa trên phân tích sử dụng cấu trúc thứ bậc cho các vấn đề.
Phương pháp giúp định lượng các nhân tổ định tính dé lựa chọn phương án tốt nhất. Trong thời gian qua, đã có nhiều tranh luận về những ưu khuyết điểm của phương pháp AHP. Waste and Freeling, suy luận ra các trọng số (weights) của các tiêu chuẩn băng phương tiện dùng một thang đo tỉ lệ. Phương pháp AHP có thang đo tiêu chuẩn là từ 1+9 tương ứng với 9 cấp độ quan trong; từ nhân tổ A quan trọng băng nhân tô B đến nhân tô A vô cùng quan trọng hơn so với nhân tố B.
Trong khi đó, Dyer và Wendel đã nghiên cứu phương pháp AHP dựa vao biện minh lý lẽ rằng nó thiếu một co sở lý thuyết vững chắc. Tuy nhiên, nhà toán học người Mỹ đã phản hồi những lời phê bình nay bằng cách hiệu chỉnh và đề nghị một mô hình AHP lý tưởng, trong đó mỗi cột của ma trận ra quyết định được chia bằng tổng giá trị các số trong cột. Và ngày nay phương pháp AHP đã được sử dụng nhiều nơi trên thế giới vào các lĩnh vực khác nhau và được xem là một phương pháp ra quyết định đáng tin cậy. Nó xem xét sự phán đoán, kiến thức, kinh nghiệm của con người trong quá trình ra quyết định.
Nghiên cứu này áp dụng mô hình AHP nhằm xây dựng một cau trúc thứ bậc phù hợp và vectơ về mức độ quan trọng. AHP được lựa chon cho nghiên cứu này bởi các lý do: - AHP có khả năng thống nhất các nhân tố định tính và định lượng trong một hệ thống nhất. HVTH: Phạm Võ Duy Thanh GVHD: TS. Lé Hoai Long II - AHP có khả năng giải quyết những van dé trong việc ra quyết định hoặc đánh giá trong ngành xây dựng.
Bằng công cụ AHP, vấn dé được phân tích một cách logic từ những phan tử lớn (nhóm nguyên nhân) đến những phan tử nhỏ hon dựa trên cơ sở xây dựng cau trúc thứ bậc phù hợp với từng dạng bài toán và tình huống khác nhau. - Kết quả tính toán của mô hình áp dụng AHP dựa trên các phán đoán của người ra quyết định và để kiểm soát mức độ hợp lý băng cách đo mức độ nhất quán của những phán đoán này. - Phuong pháp AHP có thé tích hợp với phương pháp logic mờ trong việc đánh giá và ra quyết định trong những trường hợp mà điều kiện đánh giá không rõ ràng. Đây là ưu điểm lớn để giải quyết những bai toán đánh giá, dự báo bằng cách tích hợp các phương pháp trong những bước đánh giá khác nhau cho phù hợp với điều kiện thực tế.
b) — Ưu điểm của phương pháp định lượng AHP Tính đồng nhất: Phương pháp AHP cung cấp một mô hình ra quyết định duy nhất, dễ hiểu và rất uyên chuyển cho một khoảng rộng các vẫn đề chưa định hình. Tính đa dạng: Phương pháp AHP tổng hợp những diễn dịch và cách thức tiếp cận hệ thong trong việc giải quyết van dé. Tính độc lập: Phương pháp AHP có thể liên quan tới tính độc lập của các nguyên nhân trong một hệ thống và không dựa trên những suy nghĩ thuần tuý. Cấu trúc thứ bậc: Phương pháp AHP phản ánh khuynh hướng tự nhiên của con người trong việc lựa chọn những nguyên nhân của hệ thông thành những mức độ khác nhau và các nhóm tương đồng.
Đo lường: Phương pháp AHP cung cấp một thước đo vô hình và một phương pháp thiết lập những thứ tự ưu tiên. Tính nhất quán: Phương pháp AHP tuân theo những sự ốn định hop lý của những sự đánh giá được dùng trong quyết định ưu tiên. Tổng hợp: Phương pháp AHP đưa đến một ước lượng tong quát của từng mục đích thay thế. HVTH: Phạm Võ Duy Thanh GVHD: TS.
Lé Hoai Long 12 Sự thỏa hiệp: Phương pháp AHP cân nhac đến sự tương quan thứ tự ưu tiên của các nguyên nhân trong hệ thống và cho phép mọi người lựa chọn thay thế tốt nhất trên mục tiêu của họ. Sự đánh giá và nhất trí: Phương pháp AHP không phụ thuộc vào sự nhất trí nhưng lại tạo nên một giải pháp chung từ những đánh giá trái ngược. Quá trình lặp lại: Phương pháp AHP cho phép mọi người tái thiết những khái niệm của mình về một van dé và nâng cao nhận thức cũng như khả năng đánh giá thông qua việc lặp lại. Cc) Các tiên dé của phương pháp AHP Việc thiết kế mô hình trên cơ sở áp dụng phương pháp AHP phải đáp ứng được mục tiêu của việc xây dựng mô hình, đó là nhận ra được mức độ tác động của các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi thiết kế trong giai đoạn thi công của dự án cũng như đánh giá sự thay đôi này ở mức độ nào so với kế hoạch ban đầu.
Từ đó, tìm ra mô hình để quản lý các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi thiết kế tốt hơn. Trong đó, mô hình AHP giúp chúng ta xây dựng được cấu trúc thứ bậc cho các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi thiết kế và vectơ trọng số cho từng nguyên nhân, từng nhóm nguyên nhân một cách định lượng.