Luận văn khảo sát đánh giá hiện trạng nguy cơ trượt lở đất một số đoạn trên tuyến đường hcm quốc lộ số 1 và đề xuất biện pháp xử lý đảm bảo atgt sx sh của các vùng dân cư

Luận văn khảo sát hiện trạng nguy cơ trượt lở đất trên tuyến đường HCM quốc lộ số 1, đề xuất biện pháp xử lý đảm bảo an toàn giao thông và sinh hoạt dân cư.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Địa Chất Và Khoáng Sản

Chuyên ngành

Địa chất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo kết quả đề án

2006

147
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Quyết định phê duyệt Đề án của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bản dự toán khối lượng kinh phí của Đề án

Nhận xét Báo cáo

Bản thẩm định Báo cáo

Quyết định thành lập Hội đồng xét duyệt Đề án kèm danh sách Hội đồng xét duyệt Đề án

Biên bản Hội nghị xét duyệt Báo cáo kèm danh sách Hội đồng xét duyệt

Báo cáo Quyết định phê chuẩn Báo cáo

MỞ ĐẦU

0.1. Cơ sở pháp lý của Đề án

0.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án

0.3. Tiến độ thực hiện nhiệm vụ

0.4. Sản phẩm giao nộp

1. CHƯƠNG 1: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TAI BIẾN TRƯỢT LỞ ĐẤT ĐÁ TRONG VÙNG NGHIÊN CỨU

1.1. Yếu tố cấu trúc kiến tạo

1.1.1. Đới Ngọc Linh

1.1.2. Đới Pô Kô

1.1.3. Đới Khâm Đức

1.1.4. Đới A Vương - Sê Kông

1.1.5. Đới Long Đại

1.1.6. Đới Hoành Sơn

1.2. Đặc điểm khe nứt

1.3. Đặc điểm đứt gãy

1.3.1. Đứt gãy Pô Kô

1.3.2. Đứt gãy Tà Vi - Hưng Nhượng

1.3.3. Đứt gãy Tam Kỳ - Phước Sơn

1.3.4. Đứt gãy Đăk Rông - Ca Nhông

1.3.4.1. Đứt gãy Đăk Rông - A Lưới
1.3.4.2. Đứt gãy Đà Nẵng - A Tép

2. CHƯƠNG II: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KHỐI LƯỢNG THỰC HIỆN

2.1. Các phương pháp nghiên cứu

2.2. Khối lượng thực hiện

3. CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ NGUY CƠ TRƯỢT LỞ ĐẤT ĐÁ Ở CÁC KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đèo Đá Đẽo

3.2. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đèo U Bò

3.3. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đèo Khu Đăng

3.4. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đèo Cổng Trời

3.5. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đèo Sa Mùi

3.6. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đèo Hai Hầm

3.7. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Nam Đèo Hai Hầm

3.8. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực P’Rao - A Sờ

3.9. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đèo Sông Bung

3.10. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Thị trấn Khâm Đức

3.11. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đèo Lò Xo

3.12. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đăk Glei

3.13. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đèo Cả - Đèo Cổ Mã

3.14. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Dốc Vườn Xoài

3.15. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đèo Cù Mông

3.16. Hiện trạng và nguy cơ trượt lở đất đá khu vực Đèo Hải Vân

4. CHƯƠNG IV: KINH TẾ

KẾT LUẬN

4.1. Về hiện trạng và nguy cơ trượt lở một số đoạn trên tuyến đường Hồ Chí Minh và Quốc lộ 1A

4.2. Về nguyên nhân trượt lở

4.3. Về các giải pháp xử lý, khắc phục hậu quả trượt lở

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Đánh giá nguy cơ trượt lở đất trên Quốc lộ 1

Trượt lở đất là hiện tượng địa chất nguy hiểm, đặc biệt trên các tuyến đường quan trọng như Quốc lộ 1. Báo cáo tập trung vào việc đánh giá nguy cơ trượt lở tại các đoạn đường cụ thể, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng đến an toàn giao thông. Các yếu tố như địa hình, khí hậu, và hoạt động nhân sinh được phân tích kỹ lưỡng để dự đoán nguy cơ. Kết quả cho thấy, nhiều đoạn đường có nguy cơ cao do địa hình dốc và lượng mưa lớn.

1.1. Hiện trạng trượt lở đất

Hiện trạng trượt lở đất trên Quốc lộ 1 được ghi nhận tại các khu vực như Đèo Hải Vân, Đèo Cả, và Đèo Cù Mông. Các vụ trượt lở thường xảy ra vào mùa mưa, gây cản trở giao thông và đe dọa tính mạng người dân. Báo cáo chỉ rõ các điểm nóng cần được giám sát và xử lý kịp thời.

1.2. Nguyên nhân trượt lở

Nguyên nhân chính của trượt lở đất bao gồm địa hình dốc, lớp đất yếu, và lượng mưa lớn. Các hoạt động nhân sinh như khai thác đá và xây dựng đường cũng góp phần làm tăng nguy cơ. Báo cáo nhấn mạnh sự cần thiết của việc kiểm soát các yếu tố này để giảm thiểu rủi ro.

II. Biện pháp đảm bảo an toàn giao thông

Để đảm bảo an toàn giao thông, báo cáo đề xuất nhiều biện pháp đảm bảo như gia cố taluy, xây dựng hệ thống thoát nước, và lắp đặt cảnh báo sớm. Các giải pháp này nhằm giảm thiểu tác động của trượt lở đất và đảm bảo lưu thông thông suốt trên Quốc lộ 1.

2.1. Gia cố taluy và hệ thống thoát nước

Gia cố taluy và xây dựng hệ thống thoát nước là các biện pháp đảm bảo hiệu quả để ngăn chặn trượt lở đất. Báo cáo khuyến nghị sử dụng vật liệu bền vững và thiết kế phù hợp với địa hình để tăng độ ổn định của các sườn dốc.

2.2. Hệ thống cảnh báo sớm

Hệ thống cảnh báo sớm được đề xuất để giảm thiểu rủi ro từ trượt lở đất. Các công nghệ hiện đại như cảm biến địa chấn và giám sát thời tiết sẽ giúp dự báo sớm các sự cố, từ đó đảm bảo an toàn giao thông và tính mạng người dân.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Báo cáo không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về nguy cơ trượt lở mà còn đề xuất các giải pháp thiết thực để đảm bảo an toàn giao thông. Các kết quả nghiên cứu có giá trị cao trong việc hoạch định chính sách và quản lý rủi ro thiên tai trên Quốc lộ 1.

3.1. Ứng dụng trong quản lý rủi ro

Các dữ liệu và phân tích từ báo cáo sẽ là cơ sở quan trọng cho việc quản lý rủi ro thiên tai. Các cơ quan chức năng có thể sử dụng thông tin này để lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó với trượt lở đất.

3.2. Đóng góp cho phát triển bền vững

Báo cáo góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững bằng cách đảm bảo an toàn giao thông và bảo vệ môi trường. Các giải pháp đề xuất không chỉ giảm thiểu rủi ro mà còn hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội tại các khu vực bị ảnh hưởng.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TAI BIẾN TRƯỢT LỞ ĐẤT ĐÁ TRONG VÙNG NGHIÊN CỨU Tai biến trượt lở đất đá là hệ quả của hàng loạt các nguyên nhân về nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh như cấu trúc địa chất, thành phần thạch học, đặc điểm vỏ phong hóa, địa chất thủy văn, địa chất công trình, địa mạo, khí hậu và những tác động nhân sinh v. Yếu tố cấu trúc kiến tạo Hành lang đường Hồ Chí Minh từ Ngọc Hồi (Kon Tum) đến Vũ Quang (Hà Tĩnh) đi qua nhiều đơn vị cấu trúc - kiến tạo với những đặc điểm cấu trúc - kiến tạo khác nhau và là một trong những nguyên nhân có ảnh hưởng rất lớn đến tai biến trượt lở đất đá xảy ra trong vùng nghiên cứu. Các đới cấu trúc I. Đới Ngọc Linh Đới Ngọc Linh (Lê Duy Bách và nnk., 2001) nằm trong khối lục địa cổ Indosinia (J.

Fromaget, 1941) hoặc trong Geoblock Kon Tum (Nguyễn Xuân Bao và nnk. Dọc hành lang đường Hồ Chí Minh, đới Ngọc Linh lộ ra ở phía đông đứt gãy Pô Kô từ Ngọc Hồi đến đèo Lò Xo. Phía tây giáp với đới Pô Kô, phía bắc giáp đới Khâm Đức bởi đứt gãy Tà Vi - Hưng Nhượng. Đới nằm trong vùng ảnh hưởng động đất cấp 6 (Nguyễn Đình Xuyên, 1994).

Đới Ngọc Linh thuộc vùng núi cao, sườn dốc, thung lũng sâu. Độ cao trung bình 2.500m (đỉnh Ngọc Linh cao 2. Trong giai đoạn Tân kiến tạo, đới được nâng khối tảng mạnh (Lê Đức An, 1980). Đới Ngọc Linh chủ yếu cấu tạo bởi các đá biến chất hệ tầng Sông Re và Tắc Pỏ tuổi Paleoproterozoi.

Ngoài ra còn gặp rải rác các thể nhỏ gabroamphibolit (phức hệ Phù Mỹ), granit dạng gneis (phức hệ Tu Mơ Rông), các phức hệ xâm nhập Paleozoi muộn - Mesozoi như: Bến Giằng - Quế Sơn, Hải Vân, Bà Nà. Cấu trúc địa chất chung như nếp uốn, các đứt gãy chính kéo dài theo phương ĐB - TN là chủ yếu. Phần sát với đứt gãy Pô Kô đã bị cắt chủ yếu bởi hệ khe nứt, đứt gãy á kinh tuyến. Đới Pô Kô Trên hành lang đường Hồ Chí Minh, đới Pô Kô nằm về phía tây đứt gãy Pô Kô từ Ngọc Hồi đến Khâm Đức.

Phía đông giáp với đới Ngọc Linh và đới - 22 - Khâm Đức. Đới nằm trong vùng ảnh hưởng động đất cấp 6 và đới địa chấn Mmax = 5,1 - 5,5; h = 10 - 15km (Nguyễn Đình Xuyên, 1994). Đới Pô Kô thuộc miền núi thấp - trung bình, độ cao từ 1.900m (đỉnh Bin San cao 1. Trong tân kiến tạo, đới Pô Kô cũng chuyển động nâng khối tảng, nhưng biên độ thấp hơn đới Ngọc Linh, địa hình cũng bị phân cắt với sườn dốc và suối sâu.

Đới Khâm Đức Đới Khâm Đức (Lê Duy Bách và nnk., 2001), nằm trong khối lục địa Tiền Cambri (Trần Văn Trị và nnk., 1986), đới Trà Bồng - Tà Vi (Nguyễn Văn Trang và nnk. Hành lang đường Hồ Chí Minh cắt qua rìa tây của đới (Khâm Đức). Phía nam đới giáp với đới Ngọc Linh bởi đứt gãy Tà Vi - Hưng Nhượng, phía bắc giáp với đới A Vương - Sê Kông bởi đứt gãy Tam Kỳ, phía tây giáp với đới Pô Kô. Đới nằm trong vùng ảnh hưởng động đất cấp 6 và đới địa chấn Mmax = 5,6 - 6,0; h = 25 - 30km (Nguyễn Đình Xuyên và nnk.

Trong Tân kiến tạo, đới nâng khối tảng, tạo địa hình phân cắt. Phía nam đới phân bố các đỉnh núi cao 1.600m theo phương vĩ tuyến. Phía bắc đới phân bố các đỉnh núi thấp hơn xen kẽ đồng bằng tích tụ. Đới A Vương - Sê Kông Đới A Vương - Sê Kông (Nguyễn Văn Trang và nnk., 1996; Lê Duy Bách và nnk., 2001; Trần Văn Trị và nnk., 1986 dưới tên gọi đới Đà Nẵng - Sê Pôn) gồm hai dải: - Dải phía nam (Quảng Nam) tiếp giáp với đới Khâm Đức bởi đứt gãy Tam Kỳ, phía bắc giáp với đới Long Đại bởi đứt gãy A Tép - Đà Nẵng (đoạn phía nam của đứt gãy Đăk Rông - Ca Nhông), phương cấu trúc chung là á vĩ tuyến.

- Dải phía TB kéo dài từ Hương Hóa đến A Roằng, phía đông giáp với đới Long Đại bởi đứt gãy Đăk Rông - A Roằng (đoạn TB của đứt gãy Đăk Rông - Ca Nhông), phương cấu trúc chung TB - ĐN. Đới A Vương nằm trong đới địa chấn Mmax = 5,6 - 6,0; h = 25 - 30km (Nguyễn Đình Xuyên, 1994). Đới A Vương - Sê Kông đi qua nhiều vùng núi hiểm trở với độ cao trung bình 800 - 1. Địa hình phân cắt, sườn dốc, suối sâu như đoạn từ đèo Thạnh Mỹ đi Hiên, đèo A Roằng, đèo Pê Ke v.

Đới Long Đại - 23 - Đới Long Đại nằm trùng với khối kiến trúc Bình - Trị - Thiên (Nguyễn Đình Uy và nnk. Phía TN và nam giáp với đới A Vương - Sê Kông bởi đứt gãy Đăk Rông - Ca Nhông, phía bắc giáp với đới Hoành Sơn bởi đứt gãy Rào Nậy. Phần lớn diện tích phía bắc đới nằm trùng với đới Trường Sơn (Dovjicov A. Đới Long Đại có địa hình phức tạp, hiểm trở, trùng với dải Trường Sơn kéo dài theo phương TB - ĐN từ biên giới Việt Lào (phía tây Hà Tĩnh) đến Bình - Trị - Thiên.

Từ đây đới chuyển hướng chạy ra biển tạo thành dãy núi Bạch Mã với độ cao trung bình 1. Đây là vùng nâng khối tảng mạnh trong Tân kiến tạo (Lê Đức An, 1980), tạo nên các đỉnh núi cao, sườn dốc, bị bóc mòn mạnh. Đường Hồ Chí Minh cắt qua đới Long Đại từ A Lưới đến Đăk Rông, rồi tiếp tục từ đèo Sa Mùi, Cổng Trời, làng Mô, đèo U Bò, đèo Đá Đẽo đến Hương Khê, Vũ Quang (Hà Tĩnh). Đới Hoành Sơn Đới Hoành Sơn (A.

Dovjikov và nnk., 1963; Lê Duy Bách và nnk., 2001), nằm trong “nếp lõm Sông Cả” (J. Fromaget, 1941), thuộc võng chồng Sầm Nưa (Trần Văn Trị và nnk. Trong phạm vi hành lang đường Hồ Chí Minh chỉ lộ phần TN của đới, tiếp giáp với đới Long Đại bởi đứt gãy Rào Nậy. Đới Hoành Sơn nằm trong đới địa chấn Mmax = 6,1 - 6,5; h = 15 - 20km (Nguyễn Đình Xuyên, 1994.

Đới Hoành Sơn tạo thành dãy núi kéo dài theo phương TB - ĐN từ ĐB Vũ Quang đến Đèo Ngang. Thế núi cao dần từ TB xuống ĐN, từ 100 - 200m đến hơn 1. Khu vực đèo Ngang cấu tạo bởi đá phun trào ryolit, tạo nên các đỉnh núi với sườn dốc, hiểm trở, phần TB các đỉnh núi thấp hơn xen kẽ các đồng bằng tích tụ hẹp. Đặc điểm khe nứt Sự nứt nẻ của đá phụ thuộc vào đặc điểm thạch học và mức độ biến dạng của đá.

Cùng một loại đá ở các vị trí khác nhau, trong những trường ứng suất khác nhau thì đặc điểm khe nứt cũng khác nhau. Các loại đá cổ thường bị biến dạng nhiều lần, các hệ khe nứt thường phức tạp và mặt khe nứt có độ dốc thay đổi. Các loại đá trẻ hệ khe nứt thường đơn giản hơn và mặt nứt thường dốc và thẳng đứng, liên quan đến chuyển động ngang của đứt gãy. Đá vôi cấu tạo khối thường có các hệ khe nứt phức tạp.

Đá bazan thường tạo ra hệ khe nứt hình cột liên quan đến quá trình giảm nhiệt độ và trên biểu đồ các cực đại thường phân tán. Mức độ nứt nẻ thường tập trung trong các đới phá hủy đứt gãy lớn và ngược lại. Các hệ khe nứt thường bị tái hoạt động nhiều lần. - 24 - Trên cơ sở đo đạc các hệ khe nứt trong các loại đá khác nhau dọc hành lang đường Hồ Chí Minh, có thể thành lập các biểu đồ khe nứt (BĐKN) cho một số thành tạo trầm tích và magma.

Các số liệu được chiếu lên bán cầu trên của mạng W. Smith và được thể hiện trên bản đồ dưới 2 dạng: biểu đồ mật độ khe nứt và biểu đồ các mặt khe nứt chính kết hợp với việc thể hiện vách taluy và hướng đường. Dựa vào mật độ các hệ thống khe nứt trên các biểu đồ tại các vị trí trượt lở trên đường Hồ Chí Minh, có thể thấy được mối liên quan giữa hiện tượng nứt nẻ của đất đá với tai biến trượt lở đất đá xảy ra dọc taluy đường. Đặc điểm đứt gãy Hành lang đường Hồ Chí Minh từ Ngọc Hồi (Kon Tum) đến Vũ Quang (Hà Tĩnh) chạy dọc và cắt ngang qua rất nhiều đới phá hủy đứt gãy trong đó quan trọng là các đứt gãy sâu khu vực như: Pô Kô, Tà Vi - Hưng Nhượng, Tam Kỳ, Đăk Rông - Huế, Đăk Rông - Ca Nhông (đoạn phương á vĩ tuyến còn gọi đứt gãy Đà Nẵng), Rào Nậy v.v… Các đứt gãy này hầu hết ít nhiều đều có biểu hiện hoạt động trong Kainozoi, làm cho đá bị vụn nát thành đới rộng 5km đến hơn 10km, tạo điều kiện cho phong hóa phát triển mạnh, tạo địa hình phân cắt sườn dốc và sâu, chứa các trầm tích bở rời Neogen - Đệ tứ kéo dài theo phương đứt gãy.

Các đứt gãy sâu thường nằm trùng với các đới động, đẳng cấp trung bình - mạnh, dị thường địa nhiệt, các điểm nước nóng, các đới có nồng độ khí Rn, Hg, CH4 cao và điều quan trọng là gây ra các tai biến địa chất như nứt đất, trượt lở đất đá làm hỏng đường và nguy hiểm cho đời sống dân sinh. Sau đây là đặc điểm của một số đứt gãy chính trong khu vực nghiên cứu: (1) Đứt gãy Pô Kô Đứt gãy Pô Kô còn gọi là đới khâu Pô Kô (Trần Văn Trị, 1985) có phương á kinh tuyến bắt đầu từ Đắc Sa (phía tây Khâm Đức) chạy qua Long Viên, dọc theo thung lũng Đắc Sế, từ đèo Lò Xo tiếp tục chạy dọc theo thung lũng sông Pô Kô đến Ngọc Hồi. Từ đây đứt gãy tiếp tục chạy xuống phía nam và ra khỏi khu vực nghiên cứu. Càng về phía nam thung lũng càng mở rộng.

Trong khu vực nghiên cứu, đứt gãy dài khoảng 100km. Trong thung lũng lấp đầy các trầm tích Neogen - Đệ tứ. Theo các phân tích viễn thám và khảo sát thực địa mới nhất thì biểu hiện của đứt gãy còn thấy ở phía bắc Đắc Sa, đặc biệt là trên đèo Thạnh Mỹ - Hiên, gây trượt lở mạnh ở khu vực này. Đứt gãy Pô Kô là ranh giới giữa đới cấu trúc Ngọc Linh và Pô Kô.

Đới Ngọc Linh ở phía đông với các dãy núi cao 2.500m (núi Ngọc Linh cao - 25 - 2. Đới Pô Kô với các dãy núi cao 1. Sự chênh lệch độ cao của hai đới phản ánh chuyển động nâng ở đới Ngọc Linh cao hơn đới Pô Kô trong giai đoạn Kainozoi. Trong đới phân bố nhiều thể magma có thành phần từ siêu mafic đến acit, kiềm với tuổi từ Paleozoi sớm đến Kainozoi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá nguy cơ trượt lở đất trên quốc lộ 1 và biện pháp đảm bảo an toàn giao thông" cung cấp một phân tích chi tiết về các yếu tố địa chất, thời tiết và con người góp phần vào nguy cơ trượt lở đất dọc tuyến quốc lộ 1. Đồng thời, tài liệu đề xuất các biện pháp kỹ thuật và quản lý nhằm giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, kỹ sư và những người quan tâm đến an toàn giao thông đường bộ.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học thực hiện pháp luật về giao thông đường bộ qua thực tiễn thành phố hà nội, Luận văn vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ ở tỉnh quảng bình hiện nay, và Luận văn thạc sĩ kỹ thuật xây dựng nghiên cứu mô hình phát hiện sự cố giao thông dựa trên mô phỏng dòng xe hỗn hợp ở thành phố hồ chí minh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các khía cạnh pháp lý, thực tiễn và kỹ thuật liên quan đến an toàn giao thông.