Chương I CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TAI BIẾN TRƯỢT LỞ ĐẤT ĐÁ TRONG VÙNG NGHIÊN CỨU Tai biến trượt lở đất đá là hệ quả của hàng loạt các nguyên nhân về nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh như cấu trúc địa chất, thành phần thạch học, đặc điểm vỏ phong hóa, địa chất thủy văn, địa chất công trình, địa mạo, khí hậu và những tác động nhân sinh v. Yếu tố cấu trúc kiến tạo Hành lang đường Hồ Chí Minh từ Ngọc Hồi (Kon Tum) đến Vũ Quang (Hà Tĩnh) đi qua nhiều đơn vị cấu trúc - kiến tạo với những đặc điểm cấu trúc - kiến tạo khác nhau và là một trong những nguyên nhân có ảnh hưởng rất lớn đến tai biến trượt lở đất đá xảy ra trong vùng nghiên cứu. Các đới cấu trúc I. Đới Ngọc Linh Đới Ngọc Linh (Lê Duy Bách và nnk., 2001) nằm trong khối lục địa cổ Indosinia (J.
Fromaget, 1941) hoặc trong Geoblock Kon Tum (Nguyễn Xuân Bao và nnk. Dọc hành lang đường Hồ Chí Minh, đới Ngọc Linh lộ ra ở phía đông đứt gãy Pô Kô từ Ngọc Hồi đến đèo Lò Xo. Phía tây giáp với đới Pô Kô, phía bắc giáp đới Khâm Đức bởi đứt gãy Tà Vi - Hưng Nhượng. Đới nằm trong vùng ảnh hưởng động đất cấp 6 (Nguyễn Đình Xuyên, 1994).
Đới Ngọc Linh thuộc vùng núi cao, sườn dốc, thung lũng sâu. Độ cao trung bình 2.500m (đỉnh Ngọc Linh cao 2. Trong giai đoạn Tân kiến tạo, đới được nâng khối tảng mạnh (Lê Đức An, 1980). Đới Ngọc Linh chủ yếu cấu tạo bởi các đá biến chất hệ tầng Sông Re và Tắc Pỏ tuổi Paleoproterozoi.
Ngoài ra còn gặp rải rác các thể nhỏ gabroamphibolit (phức hệ Phù Mỹ), granit dạng gneis (phức hệ Tu Mơ Rông), các phức hệ xâm nhập Paleozoi muộn - Mesozoi như: Bến Giằng - Quế Sơn, Hải Vân, Bà Nà. Cấu trúc địa chất chung như nếp uốn, các đứt gãy chính kéo dài theo phương ĐB - TN là chủ yếu. Phần sát với đứt gãy Pô Kô đã bị cắt chủ yếu bởi hệ khe nứt, đứt gãy á kinh tuyến. Đới Pô Kô Trên hành lang đường Hồ Chí Minh, đới Pô Kô nằm về phía tây đứt gãy Pô Kô từ Ngọc Hồi đến Khâm Đức.
Phía đông giáp với đới Ngọc Linh và đới - 22 - Khâm Đức. Đới nằm trong vùng ảnh hưởng động đất cấp 6 và đới địa chấn Mmax = 5,1 - 5,5; h = 10 - 15km (Nguyễn Đình Xuyên, 1994). Đới Pô Kô thuộc miền núi thấp - trung bình, độ cao từ 1.900m (đỉnh Bin San cao 1. Trong tân kiến tạo, đới Pô Kô cũng chuyển động nâng khối tảng, nhưng biên độ thấp hơn đới Ngọc Linh, địa hình cũng bị phân cắt với sườn dốc và suối sâu.
Đới Khâm Đức Đới Khâm Đức (Lê Duy Bách và nnk., 2001), nằm trong khối lục địa Tiền Cambri (Trần Văn Trị và nnk., 1986), đới Trà Bồng - Tà Vi (Nguyễn Văn Trang và nnk. Hành lang đường Hồ Chí Minh cắt qua rìa tây của đới (Khâm Đức). Phía nam đới giáp với đới Ngọc Linh bởi đứt gãy Tà Vi - Hưng Nhượng, phía bắc giáp với đới A Vương - Sê Kông bởi đứt gãy Tam Kỳ, phía tây giáp với đới Pô Kô. Đới nằm trong vùng ảnh hưởng động đất cấp 6 và đới địa chấn Mmax = 5,6 - 6,0; h = 25 - 30km (Nguyễn Đình Xuyên và nnk.
Trong Tân kiến tạo, đới nâng khối tảng, tạo địa hình phân cắt. Phía nam đới phân bố các đỉnh núi cao 1.600m theo phương vĩ tuyến. Phía bắc đới phân bố các đỉnh núi thấp hơn xen kẽ đồng bằng tích tụ. Đới A Vương - Sê Kông Đới A Vương - Sê Kông (Nguyễn Văn Trang và nnk., 1996; Lê Duy Bách và nnk., 2001; Trần Văn Trị và nnk., 1986 dưới tên gọi đới Đà Nẵng - Sê Pôn) gồm hai dải: - Dải phía nam (Quảng Nam) tiếp giáp với đới Khâm Đức bởi đứt gãy Tam Kỳ, phía bắc giáp với đới Long Đại bởi đứt gãy A Tép - Đà Nẵng (đoạn phía nam của đứt gãy Đăk Rông - Ca Nhông), phương cấu trúc chung là á vĩ tuyến.
- Dải phía TB kéo dài từ Hương Hóa đến A Roằng, phía đông giáp với đới Long Đại bởi đứt gãy Đăk Rông - A Roằng (đoạn TB của đứt gãy Đăk Rông - Ca Nhông), phương cấu trúc chung TB - ĐN. Đới A Vương nằm trong đới địa chấn Mmax = 5,6 - 6,0; h = 25 - 30km (Nguyễn Đình Xuyên, 1994). Đới A Vương - Sê Kông đi qua nhiều vùng núi hiểm trở với độ cao trung bình 800 - 1. Địa hình phân cắt, sườn dốc, suối sâu như đoạn từ đèo Thạnh Mỹ đi Hiên, đèo A Roằng, đèo Pê Ke v.
Đới Long Đại - 23 - Đới Long Đại nằm trùng với khối kiến trúc Bình - Trị - Thiên (Nguyễn Đình Uy và nnk. Phía TN và nam giáp với đới A Vương - Sê Kông bởi đứt gãy Đăk Rông - Ca Nhông, phía bắc giáp với đới Hoành Sơn bởi đứt gãy Rào Nậy. Phần lớn diện tích phía bắc đới nằm trùng với đới Trường Sơn (Dovjicov A. Đới Long Đại có địa hình phức tạp, hiểm trở, trùng với dải Trường Sơn kéo dài theo phương TB - ĐN từ biên giới Việt Lào (phía tây Hà Tĩnh) đến Bình - Trị - Thiên.
Từ đây đới chuyển hướng chạy ra biển tạo thành dãy núi Bạch Mã với độ cao trung bình 1. Đây là vùng nâng khối tảng mạnh trong Tân kiến tạo (Lê Đức An, 1980), tạo nên các đỉnh núi cao, sườn dốc, bị bóc mòn mạnh. Đường Hồ Chí Minh cắt qua đới Long Đại từ A Lưới đến Đăk Rông, rồi tiếp tục từ đèo Sa Mùi, Cổng Trời, làng Mô, đèo U Bò, đèo Đá Đẽo đến Hương Khê, Vũ Quang (Hà Tĩnh). Đới Hoành Sơn Đới Hoành Sơn (A.
Dovjikov và nnk., 1963; Lê Duy Bách và nnk., 2001), nằm trong “nếp lõm Sông Cả” (J. Fromaget, 1941), thuộc võng chồng Sầm Nưa (Trần Văn Trị và nnk. Trong phạm vi hành lang đường Hồ Chí Minh chỉ lộ phần TN của đới, tiếp giáp với đới Long Đại bởi đứt gãy Rào Nậy. Đới Hoành Sơn nằm trong đới địa chấn Mmax = 6,1 - 6,5; h = 15 - 20km (Nguyễn Đình Xuyên, 1994.
Đới Hoành Sơn tạo thành dãy núi kéo dài theo phương TB - ĐN từ ĐB Vũ Quang đến Đèo Ngang. Thế núi cao dần từ TB xuống ĐN, từ 100 - 200m đến hơn 1. Khu vực đèo Ngang cấu tạo bởi đá phun trào ryolit, tạo nên các đỉnh núi với sườn dốc, hiểm trở, phần TB các đỉnh núi thấp hơn xen kẽ các đồng bằng tích tụ hẹp. Đặc điểm khe nứt Sự nứt nẻ của đá phụ thuộc vào đặc điểm thạch học và mức độ biến dạng của đá.
Cùng một loại đá ở các vị trí khác nhau, trong những trường ứng suất khác nhau thì đặc điểm khe nứt cũng khác nhau. Các loại đá cổ thường bị biến dạng nhiều lần, các hệ khe nứt thường phức tạp và mặt khe nứt có độ dốc thay đổi. Các loại đá trẻ hệ khe nứt thường đơn giản hơn và mặt nứt thường dốc và thẳng đứng, liên quan đến chuyển động ngang của đứt gãy. Đá vôi cấu tạo khối thường có các hệ khe nứt phức tạp.
Đá bazan thường tạo ra hệ khe nứt hình cột liên quan đến quá trình giảm nhiệt độ và trên biểu đồ các cực đại thường phân tán. Mức độ nứt nẻ thường tập trung trong các đới phá hủy đứt gãy lớn và ngược lại. Các hệ khe nứt thường bị tái hoạt động nhiều lần. - 24 - Trên cơ sở đo đạc các hệ khe nứt trong các loại đá khác nhau dọc hành lang đường Hồ Chí Minh, có thể thành lập các biểu đồ khe nứt (BĐKN) cho một số thành tạo trầm tích và magma.
Các số liệu được chiếu lên bán cầu trên của mạng W. Smith và được thể hiện trên bản đồ dưới 2 dạng: biểu đồ mật độ khe nứt và biểu đồ các mặt khe nứt chính kết hợp với việc thể hiện vách taluy và hướng đường. Dựa vào mật độ các hệ thống khe nứt trên các biểu đồ tại các vị trí trượt lở trên đường Hồ Chí Minh, có thể thấy được mối liên quan giữa hiện tượng nứt nẻ của đất đá với tai biến trượt lở đất đá xảy ra dọc taluy đường. Đặc điểm đứt gãy Hành lang đường Hồ Chí Minh từ Ngọc Hồi (Kon Tum) đến Vũ Quang (Hà Tĩnh) chạy dọc và cắt ngang qua rất nhiều đới phá hủy đứt gãy trong đó quan trọng là các đứt gãy sâu khu vực như: Pô Kô, Tà Vi - Hưng Nhượng, Tam Kỳ, Đăk Rông - Huế, Đăk Rông - Ca Nhông (đoạn phương á vĩ tuyến còn gọi đứt gãy Đà Nẵng), Rào Nậy v.v… Các đứt gãy này hầu hết ít nhiều đều có biểu hiện hoạt động trong Kainozoi, làm cho đá bị vụn nát thành đới rộng 5km đến hơn 10km, tạo điều kiện cho phong hóa phát triển mạnh, tạo địa hình phân cắt sườn dốc và sâu, chứa các trầm tích bở rời Neogen - Đệ tứ kéo dài theo phương đứt gãy.
Các đứt gãy sâu thường nằm trùng với các đới động, đẳng cấp trung bình - mạnh, dị thường địa nhiệt, các điểm nước nóng, các đới có nồng độ khí Rn, Hg, CH4 cao và điều quan trọng là gây ra các tai biến địa chất như nứt đất, trượt lở đất đá làm hỏng đường và nguy hiểm cho đời sống dân sinh. Sau đây là đặc điểm của một số đứt gãy chính trong khu vực nghiên cứu: (1) Đứt gãy Pô Kô Đứt gãy Pô Kô còn gọi là đới khâu Pô Kô (Trần Văn Trị, 1985) có phương á kinh tuyến bắt đầu từ Đắc Sa (phía tây Khâm Đức) chạy qua Long Viên, dọc theo thung lũng Đắc Sế, từ đèo Lò Xo tiếp tục chạy dọc theo thung lũng sông Pô Kô đến Ngọc Hồi. Từ đây đứt gãy tiếp tục chạy xuống phía nam và ra khỏi khu vực nghiên cứu. Càng về phía nam thung lũng càng mở rộng.
Trong khu vực nghiên cứu, đứt gãy dài khoảng 100km. Trong thung lũng lấp đầy các trầm tích Neogen - Đệ tứ. Theo các phân tích viễn thám và khảo sát thực địa mới nhất thì biểu hiện của đứt gãy còn thấy ở phía bắc Đắc Sa, đặc biệt là trên đèo Thạnh Mỹ - Hiên, gây trượt lở mạnh ở khu vực này. Đứt gãy Pô Kô là ranh giới giữa đới cấu trúc Ngọc Linh và Pô Kô.
Đới Ngọc Linh ở phía đông với các dãy núi cao 2.500m (núi Ngọc Linh cao - 25 - 2. Đới Pô Kô với các dãy núi cao 1. Sự chênh lệch độ cao của hai đới phản ánh chuyển động nâng ở đới Ngọc Linh cao hơn đới Pô Kô trong giai đoạn Kainozoi. Trong đới phân bố nhiều thể magma có thành phần từ siêu mafic đến acit, kiềm với tuổi từ Paleozoi sớm đến Kainozoi.