CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG THÔNG TIN DI ĐỘNG 5G TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về hệ thống thông tin di động 5G 1.1 Giới thiệu tổng quan về hệ thống 5G 5G là mạng di động thế hệ thứ năm được mong đợi sẽ là nền tảng di động hoàn hảo thỏa mãn điều kiện đa dạng về thiết bị kết nối, đáp ứng được siêu kết nối, lưu lượng dữ liệu tốc độ cực cao, và độ trễ rất nhỏ, là hạ tầng nền tảng phát triển các dịch vụ, ứng dụng trong cách mạng công nghiệp 4.0 như nhà máy thông minh, dịch vụ có độ trễ cực thấp cho y tế từ xa, dịch vụ điều khiển thiết bị không người lái trong quân đội. Các ứng dụng dựa trên các kỹ thuật tiên tiến của mạng 5G có thể chia theo ba hướng gồm: kỹ thuật băng thông rộng tăng cường (dịch vụ băng thông di động nâng cao eMBB), kỹ thuật truyền thông độ trễ thấp, độ tin cậy siêu cao (uRLLC) và kỹ thuật truyền thông dạng máy hàng loạt (mMTC) [1] như hình 1.1 Các hướng phát triển dịch vụ của mạng 5G Luan van 3 Theo tính toán của Tổ chức tiêu chuẩn hóa ITU, mạng vô tuyến mới 5G NR sẽ có cấu trúc linh hoạt, sở hữu các ưu điểm vượt trội so với mạng 4G và có thể đạt được các thông số mục tiêu cho từng trường hợp sử dụng. Cho đến giữa tháng 9 năm 2020, theo số liệu của Hiệp hội các nhà cung cấp dịch vụ di động toàn cầu GSA đã có 118 nhà khai thác đã triển khai cung cấp dịch vụ 5G trên mạng lưới, 82 nhà mạng đã có giấy phép cung cấp thương mại dịch vụ 5G và 124 nhà mạng đã tiến hành thử nghiệm, mua lại giấy phép, lập kế hoạch và triển khai mạng. Các quốc gia đang đóng vai trò tích cực trong việc chuẩn hóa và thúc đẩy sớm đưa 5G ra thương mại hóa bao gồm: Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc.
Đây là các quốc gia có nền công nghiệp sản xuất phần cứng phát triển, đang hoàn thiện các giải pháp về hệ thống 5G và nỗ lực để sớm triển khai công nghệ 5G để tạo lợi thế cạnh tranh trong việc xuất khẩu thiết bị, công nghệ này sang các thị trường khác. Các hãng sản xuất thiết bị, phần cứng như Nokia, Ericsson, Qualcomm, NEC, Huawei, ZTE,… đã dần hoàn thiện, đưa ra giải pháp của mình cho hệ thống 5G theo kiến trúc mà 3GPP đã đề xuất và đang hợp tác với các nhà khai thác mạng để thử nghiệm công nghệ này.2 Các tiêu chuẩn của hệ thống 5G Trên thế giới, có nhiều tổ chức chuẩn hóa quan tâm tới việc phát triển và chuẩn hóa công nghệ 5G nhưng đóng vai trò quan trọng nhất là Liên minh viễn thông quốc tế (ITU) và Dự án đối tác thế hệ thứ ba (3GPP). Trong đó, ITU xác định tầm nhìn, mục tiêu tổng thể, các thông số, hiệu suất cần đạt được, tiến trình và thời gian để phát triển hệ thống thông tin di động thế hệ mới với tên mã là "IMT-2020” được hình thành theo dự báo của ITU-R về các xu hướng tác động đến việc sử dụng dữ liệu di động hiện nay và trong năm năm tiếp theo, còn 3GPP thì phát triển các tiêu chuẩn cụ thể nhằm hiện thực hóa các mục tiêu, tầm nhìn này.3 Tổ chức viễn thông thế giới (ITU) Theo kế hoạch của ITU về lộ trình phát triển mạng 5G thì nhóm làm việc thuộc lĩnh vực thông tin vô tuyến (ITU-R) sẽ đưa ra các chỉ tiêu kỹ thuật của mạng 5G (IMT-2020) theo kế hoạch sau: đưa ra các yêu cầu kỹ thuật vào năm 2017, các khuyến Luan van 4 nghị về hệ thống, công nghệ ban hành vào năm 2019 và hệ thống IMT-2020 chính thức sẽ được đưa ra vào năm 2020. Từ tháng 9/2015, ITU đã xuất bản khuyến nghị ITU-R M.2082 “IMT Vision – Framework and overall objectives of the future development of IMT for 2020 and beyond” đưa ra các thông số chính mà mạng IMT mới cần đạt được (gồm tốc độ đỉnh, tốc độ trải nghiệm của người dùng, hiệu quả sử dụng phổ tần, di động, độ trễ, mật độ kết nối, hiệu quả năng lượng mạng và dung năng lưu lượng trên một khu vực).
Sau đó, nhóm nghiên cứu ITU – T SG 13 tổng hợp các nghiên cứu chính đã được các thành viên thực hiện liên quan đến công nghệ 5G. Các khuyến nghị liên quan đến công nghệ 5G thuộc seri Y của ITU - T3. Nhóm nghiên cứu ITU chia các khuyến nghị liên quan đến IMT – 2020 thành 5 nhóm đối tượng chuẩn hóa chính: • Dịch vụ, cấu hình và quản lý (Service, Architecture and Management); • Dữ liệu (Data); • Các vấn đề liên quan đến môi trường (Environmental aspects); • Kết nối mạng tin cậy (Trustworthy Networking) • Mạng thông minh phổ cập (Smart Ubiquitous Networks). Hiện nay, các vấn đề đang được ITU quan tâm bao gồm các vấn đề về yêu cầu và kiến trúc chức năng cho mạng IMT – 2020; QoS cho mạng IMT, công nghệ ảo hóa SDN, các công nghệ mạng trong tương lai cho hệ thống IMT như ICN (Information Centric Networking) và Hội tụ mạng di động cố định.4 Tổ chức 3GPP Tương tự ITU-R, tổ chức 3GPP cũng đưa ra lộ trình cho mạng 5G gồm 3 giai đoạn: giai đoạn nghiên cứu đưa ra tại Release 14 năm 2017, Pha đầu tiên nghiên cứu về 5G được đưa ra tại Release 15 và pha 2 sẽ được chính thức đưa ra vào năm 2020[6].
3GPP bắt đầu các nghiên cứu liên quan đến công nghệ 5G tại phiên bản Release 14 từ tháng 03 năm 2016 (FS_NR_newRAT, RP – 170379) “Study on New Radio (NR) Access Technology” với mục tiêu xác định và phát triển các thành phần công nghệ của công nghệ 5G nhằm đáp ứng được việc cung cấp các dịch vụ đa dạng Luan van 5 (bao gồm cả dịch vụ băng rộng eMBB, Industrial IoT (IIoT) và Kết nối siêu tin cậy, độ trễ thấp (URLLC) và Kết nối thiết bị số lượng lớn (mMTC)) [8]. Công nghệ 5G theo yêu cầu IMT 2020 phiên bản Release 15 đã được chính thức ban hành vào tháng 6 năm 2018 và chỉ quy định tiêu chí kỹ thuật cho các nhà sản xuất thiết bị về việc cung cấp dịch vụ băng rộng eMBB thông qua Non – standalone mode (NSA) hoặc độc lập Standalone mode (SA). Đối với phiên bản Release 15, các nhà sản xuất thiết bị chỉ có thể cung cấp duy nhất dịch vụ eMBB.2 Lộ trình phát triển công nghệ 5G của 3GPP [7] Công nghệ 5G theo yêu cầu IMT 2020 phiên bản Release 16 hỗ trợ các tính năng chưa được triển khai ở phiên bản Release 15: bổ sung cho eMBB như Industrial IoT (IIoT) và Kết nối siêu tin cậy, độ trễ thấp (URLLC) và Kết nối thiết bị số lượng lớn (mMTC). Phiên bản Release 16 stage 3 và Release 16 ASN 1 đã được ban hành tháng 7/2020.
Phiên bản Release 17 RAN stage 1, 2 và 3 đã được thông qua về nội dung vào quý I năm 2020 và phiên bản Release 16 RAN 4 dự kiến ban hành tháng 12/2020. Hiện nay 3GPP đang tiếp tục thảo luận về nội dung phiên bản Release 18 Content Definition (TBC). Các tiêu chuẩn trong các phiên bản Release 15, 16 này hiện đang được 3GPP ban hành thành các tiêu chí kỹ thuật thuộc mã TR, TS nhóm 22, 23, 29, 33 và 38 1.5 Viện Tiêu chuẩn Viễn thông Châu âu (ETSI) Luan van 6 Viện Tiêu chuẩn Viễn thông châu Âu (ETSI) là một tổ chức tiêu chuẩn hóa, phi lợi nhuận và độc lập trong công nghiệp viễn thông tại Châu Âu. Đối với lĩnh vực 5G, ETSI tập trung vào các đặc trưng kỹ thuật riêng lẻ và ứng dụng tiềm năng trong 5G hoặc trong các khối chứng năng của hệ thống 5G.
Nghiên cứu của ETSI tập trung vào các công nghệ như: NFV, MEC và các vấn đề về quản lý và điều phối (MANO - Management and orchestration). Về phần kiến trúc hệ thống, các tiêu chuẩn của nhóm 3GPP được ETSI chấp thuận nguyên vẹn và công bố dưới dạng tiêu chuẩn ETSI TS (Technical Specification) với số mã số tiêu chuẩn giống như mã của 3GPP nhưng thêm số 1 trước các mã. Ví dụ như tiêu chuẩn về thiết bị trạm gốc có mã số là 3GPP TS 38.104 tại 3GPP sẽ có mã ETSI TS 138.104 trong hệ thống tiêu chuẩn ETSI7. Các đối tượng tiêu chuẩn hóa của ETSI chấp thuận từ tổ chức 3GPP gồm: Các thông tin cơ bản (cấu trúc, công nghệ truy nhập vô tuyến, tần số vô tuyến, giao diện vô tyến, yêu cầu về dịch vụ đối với hệ thống vô tuyến thế hệ mới); Các yêu cầu chung về mạng 5G; Thiết bị đầu cuối UE 5G (có yêu cầu riêng đối với UE hoạt động trong dải tần FR1 (410 – 7125MHz) và FR2 (24250 – 52600 MHz)); Trạm gốc 5G; Lớp 1 - Lớp vật lý; Lớp 2 – Lớp điều khiển 1; Lớp 3 – Lớp điều khiển 2; Mạng truy nhập 5G; Kiến trúc hệ thống và các quy trình cho hệ thống 5G; Kiến trúc dựa trên dịch vụ và các giao diện; Các chức năng của mạng 5G; Tầng không truy nhập của hệ thống 5G (Non-access-stratum for 5G system); Kiểm soát chính sách và giá cước; An toàn thông tin cho 5G, Lát cắt mạng (Network Slicing); Nghiên cứu về các trường hợp sử dụng 5G; Kiểm chuẩn 1.6 Kiến trúc mạng 5G 1.1 Kiến trúc tổng quan về mạng 5G Tổ chức tiêu chuẩn thế giới 3GPP đưa ra kiến trúc tham chiếu cho hệ thống 5G (non- roaming không kết nối với mạng khác) và công bố trong Release 16 (hình 1.
Đây là kiến trúc đã được chấp nhận chung ở các tổ chức tiêu chuẩn hóa lớn như phân tích ở trên. Kiến trúc này gần với kiểu kiến trúc thông thường của 3GPP, trong đó bao gồm các thành phần chức năng của mạng và các giao diện kết nối giữa chúng. Mô hình kiến trúc trình bầy trong hình 1.3 (Point-to-Point Architecture) có thể coi Luan van 7 như pha đầu tiên khi triển khai 5G. Ở mô hình này, các nhà mạng có thể bổ sung thêm các phần tử mạng mới phù hợp, và cấu hình lại các giao diện liền kề theo yêu cầu chức năng đặt ra của nhà mạng.3 Kiến trúc kết nối hệ thống 5G tham chiếu theo 3GPP [8] Mô hình kiến trúc thứ hai (hình 1.4), Service-Base Architecture (SBA), là pha triển khai thứ 2 của 5G.
Mô hình này cũng có cùng các thành phần chức năng mạng như mô hình kiến trúc Point-to-Point và cùng đường xử lý dữ liệu người dùng giữa UE và mạng dữ liệu. Điểm khác biệt nằm ở phần mặt phẳng điều khiển phía trên, thay vì định nghĩa các giao diện giữa các thành phần, một mô hình dịch vụ được đưa ra với việc sử dụng NRF – NF (network function) Repository Function – để hỗ trợ khai thác các dịch vụ.