CHƯƠNG I – NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN MẶT ĐƯỜNG BTXM Nội dung của nghiên cứu tổng quan sẽ bao gồm các nội dung chính như sau: - Tổng quan về mặt đường BTXM. - Tình hình sử dụng mặt đường BTXM trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. - Một số loại hình hư hỏng. - Kết luận Các nội dung sẽ được trình bày chi tiết dưới đây.
Tổng quan về mặt đường BTXM.1 Phát triển mặt đường BTXM trên thế giới. Mặt đường BTXM xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, bắt đầu ở Anh vào những năm 1950, sau đó lan dần sang các nước Pháp, Đức, Mỹ và Nga…Trong suốt hơn 100 năm qua, mặt đường BTXM đã được tiếp tục xây dựng và phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển như: Canada, Hoa Kỳ, CHLB Đức, Anh, Bỉ, Hà Lan, Australia, Trung Quốc… Mặt đường BTXM (mặt đường cứng) cùng với mặt đường mềm là 2 loại hình mặt đường chính được sử dụng cho giao thông đường bộ và sân bay, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên mạng lưới giao thông của các khu vực, lãnh thổ và xuyên quốc gia. Mặt đường BTXM có mặt trên tất cả các cấp đường giao thông đường bộ, từ địa phương, hệ thống tỉnh lộ, quốc lộ, từ đường có lưu lượng xe thấp đến đường phố, đường trục chính, đường cao tốc. Mặt đường BTXM cũng thường được sử dụng ở hầu hết các sân bay, bến cảng, các đường chuyên dụng và các bãi đỗ xe.
Ngày nay, mặt đường BTXM vẫn luôn được các nhà nghiên cứu các nhà quản lý rất quan tâm. Hệ thống Tiêu chuẩn ngày càng hoàn thiện và công nghệ xây dựng ngày càng phát triển đồng bộ và hiện đại. Hàng năm, những -7- hội nghị tổng kết phổ biến kinh nghiệm và những nghiên cứu phát triển mới về loại hình mặt đường BTXM của thế giới vẫn được duy trì thường niên và phạm vi áp dụng của mặt đường BTXM ngày càng được mở rộng. Khối lượng mặt đường BTXM đã xây dựng ở một số nước được thống kê dưới đây: Bảng 1.1: Thống kê tình hình sử dụng mặt đường BTXM trên thế giới Quốc gia Tỷ lệ đường BTXM Ghi chú Québec (Canada) 4% (1239km) 75% KL vận tải CHLB Đức 25% Áo 67% (14000km) Đường cao tốc 40% đường cao tốc, Bỉ 17% tổng hệ thống 60% đường nông thôn Hà Lan 4% Anh 5% Úc 67% Đường cao tốc Mỹ 17% đường xa lộ Số liệu năm 2005 Trung Quốc 58% (306.622km) Số liệu năm 2005 Nhật Bản 4,6% tổng hệ thống 37,2% đường cao tốc (Nguồn: Báo cáo tổng kết nghiên cứu hiệu quả áp dụng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn dùng xi măng làm đường bê tông – Viện KHCN Xây dựng) -8- 1.
Phát triển mặt đường BTXM tại Việt Nam Trong những năm gần đây, với sự quan tâm mạnh mẽ của Đảng và Chính phủ về đầu tư cho xây dựng, cải tạo mạng lưới đường bằng nhiều nguồn vốn khác nhau như Ngân hàng thế giới (World Bank), ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), JBIC (Nhật bản), nguồn vốn đối ứng trong nước…. Hàng loạt con đường lớn đã được cải tạo và nâng cấp như : Quốc lộ 1A đoạn đường Vinh – Đông Hà dài gần 100 Km (đường cấp III đồng bằng) Đoạn nhánh phía Tây và phía Đông đường Hồ Chí Minh gần 400 Km (đường cấp IV) QL18 (một số đoạn ngập lụt) dài gần 40 Km đường cấp III đồng bằng. Một số đoạn tuyến khác đã được xây dựng từ những năm 90 như QL3 (đoạn Thái Nguyên – Bắc Cạn) đoạn Tiên Yên – Móng Cái thuộc QL4 (20Km) cấp V miền núi. Một số đường đô thị, đường khu công nhiệp, đường chuyên dụng bằng BTXM.
Một loạt các đường BTXM dùng cho đường GTNT cấp thấp. Nếu quy đổi chung thành một cấp (cấp IV) tỷ lệ đường BTXM ở nước ta mới chiếm khoảng 2,5% toàn bộ đường và 5% đường QL. Trong tương lai gần, Việt Nam đã và đang thực hiện một loạt các dự án đường BTXM trong đó có cả đường cao tốc: - Dự án đường Tuần tra biên giới với chiều dài gần 1100Km với kết cấu bằng BTXM (hiện nay đã xây dựng được 300 km). - Dự án đường Đông Trường Sơn với chiều dài hơn 500 km bằng BTXM.
- Dự án đường cao tốc Ninh Bình – Vinh đang quan tâm tới mặt đường BTXM. -9- Nếu các dự án trên được thực hiện, chúng ta sẽ có hệ thống đáng kể các đường bê tông và tỷ lệ mặt đường BTXM sẽ tăng đáng kể. Phân loại và Ưu nhược điểm chung của mặt đường BTXM a) Phân loại: Về phân loại mặt đường BTXM. Trong hơn 100 năm phát triển, mặt đường BTXM được phân ra một số loại như sau: - Mặt đường BTXM không cốt thép, phân tấm, đổ tại chỗ (thông thường); - Mặt đường BTXM cốt thép; - Mặt đường BTXM lưới thép; - Mặt đường BTXM cốt thép liên tục; mặt đường BTXM cốt phân tán; - Mặt đường BTXM lu lèn; - Mặt đường BTXM ứng suất trước; - Mặt đường BTXM lắp ghép.
b) Ưu điểm: Mặt đường BTXM có một số ưu điểm nổi bật sau đây: Tuổi thọ của mặt đường BTXM tương đối cao, cao hơn mặt đường bê tông nhựa (BTN). Tuỳ theo cấp hạng đường và tiêu chí đánh giá của từng nước nhưng nói chung tuổi thọ của mặt đường BTXM được lấy vào khoảng 20 - 50 năm, Trung Quốc lấy 45 năm. Tuổi thọ thực tế của mặt đường BTXM nhiều khi lớn hơn dự kiến khi thiết kế. Theo thống kê, có những đoạn mặt đường BTXM sau khi xây dựng sau 50 năm mới phẳi tăng cường và thậm chí có đoạn tồn tại sau 78 năm sử dụng.
Cường độ mặt đường BTXM cao và không thay đổi theo nhiệt độ như mặt đường nhựa, thích hợp với tất cả các loại xe, ổn định cường độ đối với - 10 - ẩm và nhiệt, cường độ không những không bị giảm mà có giai đoạn còn tăng theo thời gian (không có hiện tượng bị lão hoá như mặt đường BTN). Có khả năng chống bào mòn, hệ số bám giữa bánh xe và mặt đường cao, an toàn cho xe chạy, mặt đường BTXM có mầu sáng nên thuận lợi cho việc chạy xe ban đêm. Chi phí duy tu, bảo dưỡng thấp. Do thời gian phục vụ tương đối dài, chi phí duy tu bảo dưỡng thấp, nên tổng giá thành xây dựng và khai thác của mặt đương BTXM có cao nhưng không cao hơn nhiều so với mặt đường BTN.
c) Nhược điểm Mặt đường BTXM thông thường tồn tại các khe nối, vừa làm phức tạp thêm cho việc thi công và duy tu, bảo dưỡng, vừa tốn kém, lại vừa ảnh hưởng đến chất lượng vận doanh, khai thác (xe chạy không êm thuận). Khe nối lại là chỗ yếu nhất của mặt đường BTXM, khiến cho chúng dễ bị phá hoại ở cạnh và góc tấm. Sau khi xây dựng xong, phải bảo dưỡng một thời gian mới cho phép thông xe, do vậy ít thích hợp đối với trường hợp nâng cấp mặt đường cũ, cẩn đảm bảo giao thông. Móng đường BTXM yêu cầu có độ bằng phẳng cao, chất lượng đồng đều và liên tục.
Không xây dựng mặt đường BTXM trên nền đường còn tiếp tục lún như đi qua vùng đất yếu. Xây dựng mặt đường BTXM chất lượng cao cho các tuyến đường cấp cao và đường cao tốc đòi hỏi phải có thiết bị thi công đồng bộ, hiện đại và quy trình công nghệ thi công chặt chẽ. Việc trộn BTXM và bảo dưỡng mặt đường đòi hỏi nhiều nước. Khi mặt đường BTXM bị hư hỏng thì rất khó sửa chữa, trong quá trình sửa chữ rất ảnh hưởng đến việc đảm bảo giao thông.
Nâng cấp cải tạo mặt - 11 - đường BTXM đòi hòi chi phí cao, hoặc phải cào bóc để tăng cường mới bằng BTXM hoặc BTN hoặc phải tăng cường lớp BTN khá dày để tránh nứt phản ánh. Chi phí xây dựng ban đầu đối với mặt đường BTXM cao hơn so với mặt đường BTN và các loại mặt đường khác. Tình hình sử dụng mặt đường BTXM trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Mặt đường BTXM đã được xây dựng và sử dụng ở Thanh Hóa từ cách đây hơn 30 năm. Giai đoạn đó chủ yếu sử dụng xi măng từ nhà máy xi măng Bỉm Sơn.
Một số tuyến đường sau đã được xây dựng từ xi măng Bỉm Sơn cách đây hơn 30 năm, đến nay một số vẫn còn sử dụng tốt. Đoạn 1 ( đường vào nhà máy): Thi công thủ công từ năm 1979, chất lượng đến nay vẫn tốt; Đoạn 2 (Đoạn đường trong thị xã Bỉm Sơn) Thi công thủ công từ năm 1979 chất lượng đến nay vẫn còn tốt; Đoạn 3 (Đường Lê Thánh Tông), thi công thủ công, sử dụng từ năm 1986. Hiện trạng có nhiều đoạn hư hỏng và trên toàn tuyến hư hỏng nhiều. Nguyên nhân là do tính toán thiết kế không lường hết tải trọng.
Đoạn 4 (đường Trần Hưng Đạo), thi công đổ tại chỗ và đưa vào sử dụng từ năm 1980 trên nền đất đắp tốt. Hiện trạng có nhiều đoạn hư hỏng lớn và trên toàn tuyến hư hỏng nhiều. Đường kém chất lượng, vết nứt dài, sâu ở khoảng giữa hai bên đường, thoát nước kém. Đoạn 5 (đường Trần Hưng Đạo kéo dài) sử dụng từ năm 1993, sửa chữa năm 1998.
Hiện trạng đường còn tốt, có vài chỗ hư hỏng nhỏ. Đoạn 6 (đường lên mỏ đá) thi công và đưa vào sử dụng từ năm 1982, hiện trạng nứt nhiều. Nguyên nhân chủ yếu do chấn động của nổ mìn, ngoài ra do xe chở đá làm rơi đá xuống mặt đường. * Đoạn đường tỉnh 522 từ Bỉm Sơn đi Phố Cát - 12 - Đoạn đường này nằm trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn – Tỉnh Thanh Hóa, Đường tỉnh 522 Bỉm Sơn – Phố Cát từ Km0 – Km 16, trong đó có 4km đầu là mặt đường BTXM với các tính chất sau: - Chiều rộng mặt đường 2×3.5m và 2x2,5m - Kích thước tấm bê tông 3,5 × 4 và 2,5x4 m2 - Chiều dày tấm trung bình 22 cm.
- Cường độ bê tông Mác 300. - Thời gian xây dựng năm 1986.1: Tuyến đường Bỉm Sơn – Phố Cát Đoạn đường BTXM này dài 4km với các tấm bản bê tông dày 22cm và có kích thước tấm là 3,5×4m2. Sau hơn 25 năm sử dụng, đường đã bị xuống cấp và hư hỏng nghiêm trọng ở nhiều đoạn tuyến. Trong tương lai gần, Thanh Hóa đang dự kiến thực hiện một loạt các dự án sử dụng mặt đường BTXM trên đường tỉnh cụ thể như sau: Đường Cầu Quan – Mục Sơn, huyện Thọ Xuân và Triệu Sơn với tổng chiều dài 58,5 km trong đó dự kiến sử dụng mặt đường BTXM dài 13,5 km.
Đường Thị trấn Thiệu Hóa – Xuân Lam, huyện Thọ Xuân và Thiệu Hóa với tổng chiều dài 36 km trong đó dự kiến sử dụng mặt đường BTXM dài 25 km.