CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1. Lý thuyết về Thẻ điểm cân bằng (BSC) 1.1 Lịch sử phát triển của Thẻ điểm cân bằng Giáo sư Robert Kaplan (Trường Đại học Harvard) và chuyên gia tư vấn David Norton (thuộc vùng Boston) đã xây dựng nên Thẻ điểm cân bằng. Năm 1990, hai ông đã nghiên cứu 12 công ty nhằm khảo sát các phương pháp mới trong lĩnh vực đo lường hiệu suất khi mà các thước đo tài chính đối với hiệu suất không còn hiệu quả nữa. Sau nhiều lần thảo luận về các giải pháp khả thi, cuối cùng hai ông đã cho ra đời ý tưởng về Thẻ điểm cân bằng – công cụ đề cao các thước đo liên quan đến hiệu suất.
Kể từ đó, phương pháp này được áp dụng ở nhiều tập đoàn, công ty đa quốc gia trên thế giới như IBM, General Electric,. Kể từ năm 2010, Thẻ điểm cân bằng mới được thực sự áp dụng cho nhiều doanh nghiệp Việt nam với tư cách là một công cụ mới trong hoạt động quản trị. Đi đầu là các doanh nghiệp lớn trong hệ thống Ngân hàng và các doanh nghiệp lớn khác như FPT, Ngân hàng Vietinbank, Kinh đô, Ngân hàng ACB,. Gần 2 thập kỷ sau, trong kết quả khảo sát toàn cầu về các công cụ quản lý năm 2012 do hãng tư vấn Bain công bố, Thẻ điểm cân bằng đã lọt vào top 10 công cụ quản lý được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới ở vị trí thứ 5 (tăng lên một mức so với năm 2011) và được tạp chí Business Harvard Review đánh giá là một trong 75 ý tưởng hiệu quả nhất của thế kỷ 20 (Đặng Thị Hương – Tạp chí Khoa học Đại học Quốc Gia Hà Nội, Kinh tế và kinh doanh số 26 năm 2010, trang 97).
Khái niệm và cấu trúc Thẻ điểm cân bằng 1.1 Khái niệm về Thẻ điểm cân bằng Thẻ điểm cân bằng là một phương pháp nhằm chuyển tầm nhìn, sứ mệnh và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu cụ thể, những phép đo và chỉ tiêu rõ ràng bằng việc thiết lập một hệ thống đo lường hiệu quả trong quản lý công việc (Robert Kaplan & David Norton, 1996). 123doc 5 Ngoài ra, Thẻ điểm cân bằng còn được hiểu là một tập hợp các thước đo hiệu suất (để đánh giá kết quả hoàn thành công việc) bắt nguồn từ Chiến lược của tổ chức, thể hiện thông qua một hệ thống thẻ điểm cân bằng được phân tầng tới các cấp độ và cá nhân. Nói cách khác, hệ thống Thẻ điểm cân bằng là mô hình đo lường hiệu quả hoạt động của tổ chức với góc nhìn đa chiều bao gồm các chỉ số phi tài chính và các chỉ số tài chính truyền thống được kết nối chặt chẽ trên 4 phương diện có quan hệ nhân quả: Tài chính, Khách hàng, Quy trình hoạt động nội bộ và Đào tạo – Phát triển (Robert Kaplan & David Norton, 1996). Thẻ điểm cân bằng là một công cụ quản trị, một phương pháp giúp cho doanh nghiệp thiết lập, thực hiện, giám sát công việc nhằm đạt được các chiến lược và các mục tiêu của tổ chức thông qua việc diễn giải và phát triển các mục tiêu chiến lược thành các mục tiêu, chương trình hành động cụ thể dựa trên 4 phương diện nói trên.
Đối với Thẻ điểm cân bằng thì phương diện tài chính là quan trọng nhưng phải quan tâm đến các phương diện phi tài chính khác nếu không thì tổ chức rất dễ xa rời mục tiêu chiến lược, lệch lạc định hướng, làm giảm sự hài lòng của khách hàng đối với tổ chức và những hệ lụy xấu sẽ xảy ra trong tương lai. Bốn phương diện của thẻ điểm cân bằng cho phép một sự cân bằng giữa những mục tiêu dài hạn và ngắn hạn, giữa những kết quả mong đợi và những nhân tố thúc đẩy hiệu quả hoạt động của những kết quả đó, giữa những thước đo khách quan và những thước đo đơn giải hơn, chủ quan hơn.2 Cấu trúc thẻ điểm cân bằng Thẻ điểm cân bằng chuyển hóa sứ mệnh và chiến lược thành những mục tiêu và thước đo được tổ chức thành bốn phương diện khác nhau là tài chinh, khách hàng, quy trình nội bộ và học tập, phát triển. Bốn phương diện của thẻ điểm cho phép một sự cân bằng giữa những mực tiêu dài hạn và ngắn hạn, giữa những kết quả mong đợi và những nhân tố thúc đẩy hiệu quả hoạt động của những kết quả đó, giữa những thước đo khách quan, khó khăn và những thước đo đơn giản hơn, chủ quan hơn. 123doc 6 Mối quan hệ giữa chiến lược kinh doanh và bốn phương diện trong thẻ điểm cân bằng được Kaplan và Norton phân tích trong tác phẩm “Thẻ điểm cân bằng” (1996) được trình bày trong hình 1.4 như sau: Hình 1.1 Thẻ điểm cân bằng với 4 phương diện (Nguồn: Robert Kaplan & David Norton, 1996) Bốn phương diện trên đều xuất phát từ tầm nhìn và chiến lược, nó có mối quan hệ tương tác, thúc đẩy lẫn nhau theo mối quan hệ nhân quả.
Ngoài ra, thẻ điểm cân bằng bao gồm những thước đo tài chính về hiệu quả hoạt động trong quá khứ và những thước đo của những nhân tố dẫn dắt hiệu suất trong tương lai.3 Các phương diện của hệ thống Thẻ điểm cân bằng 1.1 Phương diện tài chính Các thước đo tài chính vẫn là thành phần cốt yếu để đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của các Phòng/Ban của tổ chức. Những thước đo tài chính này giúp cho các nhà quản lý có thể đo lường dễ dàng những hoạt động đã thực hiện, thể hiện rằng liệu chiến lược, việc triển khai và thực thi chiến lược của một công ty có góp phần vào việc tăng trưởng lợi nhuận hay không. Thông tin về phương diện tài chính được tổng hợp từ nguồn kết quả hoạt động kinh doanh, được đo lường từ các 123doc 7 hoạt động phát sinh trong kỳ tài chính. Do đó, chỉ tiêu tài chính này phản ánh rõ rệt kết quả thực hiện các chiến lược của doanh nghiệp, đóng góp cho mục tiêu chung của tổ chức để từ đó đúc kết ra những điểm cần cải thiện trong quá trình hoạt động.
Thước đo tài chính có thể có những khác biệt khá đáng kể ở mỗi giai đoạn của một chu trình kinh doanh. Có thể phân biệt chu trình kinh doanh thành ba giai đoạn sau đây: Tăng trưởng (growth), duy trì (sustain) và thu hoạch (harvest). Ở mỗi giai đoạn, các thước đo tài chính sẽ được xem xét cụ thể và định kỳ với những chỉ số đo lường khác nhau do những thay đổi về công nghệ, thị trường hay những thay đổi trong quy định của các cơ quan quản lý nhà nước. - Những mục tiêu tài chính trong giai đoạn tăng trưởng sẽ nhấn mạnh đến tăng trưởng doanh số bán hàng – trong các thị trường mới, với các khách hàng mới và từ những sản phẩm/dịch vụ mới – trong khi duy trì mức chi phí đủ cho việc phát triển sản phẩm và quy trình, hệ thống, khả năng của nhân viên; việc thiết lập các kênh tiếp thị, bán hàng và những kênh phân phối mới.
- Những mục tiêu tài chính trong giai đoạn duy trì sẽ nhấn mạnh đến các thước đo tài chính truyền thống, như lợi nhuận trên vốn, thu nhập kinh doanh và lãi gộp. Các dự án đầu tư cho đơn vị kinh doanh trong giai đoạn này sẽ được đánh giá bằng dòng tiền tiêu chuẩn và dòng tiền chiết khấu, và những phân tích về dự toán vốn đầu tư. Một số công ty sẽ sử dụng những thước đo tài chính mới hơn, như giá trị kinh tế gia tăng và giá trị cổ đông. Những thước đo này cũng đều thể hiện mục tiêu tài chính kinh điển – đạt được những lợi nhuận nổi trội trên vốn cung cấp cho đơn vị kinh doanh.
- Còn những mục tiêu tài chính cho các đơn vị kinh doanh ở giai đoạn thu hoạch sẽ chú trọng đến dòng tiền. Mọi nguồn đầu tư phải thu hồi vốn bằng tiền mặt nhanh chóng và chắc chắn. Các thước đo kế toán – như lợi nhuận trên đầu tư, giá trị kinh tế gia tăng và thu nhập kinh doanh – không phù hợp cho lắm bởi các khoản đầu tư chính đã được thực hiện ở những đơn vị kinh doanh này rồi. Mục đích không phải là tối đa hóa lợi nhuận trên đầu tư, điều này có thể sẽ khuyến khích các nhà quản lý tìm kiếm thêm các nguồn vốn đầu tư truyền thống dựa trên những dự đoán 123doc 8 lợi nhuận trong tương lai.
Thay vào đó, mục đích chính là tối đa hóa lượng tiền mặt mà công ty có thể thu hồi từ tất cả các hoạt động đầu tư trước đó. Gần như sẽ không có bất kỳ chi phí nào cho việc nghiên cứu, phát triển mới hoặc mở rộng khả năng do chỉ có ít thời gian còn lại trong vòng đời kinh tế của các đơn vị kinh doanh trong giai đoạn này thôi (Robert S.2 Phương diện khách hàng Các nhà quản lý sẽ nhận diện phân khúc khách hàng và thị trường mà tổ chức sẽ phải cạnh tranh và những thước đo hiệu quả về hoạt động ở phân khúc thị trường mục tiêu đó. Những thước đo kết quả cốt lõi gồm việc làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, chăm sóc khách hàng, tìm kiếm khách hàng mới, lợi nhuận từ khách hàng mang lại, thị phần ở phân khúc thị trường mục tiêu. Bên cạnh đó, phương diện này bao gồm cả những thước đo cụ thể về tập hợp các giá trị mà công ty đó mang lại cho khách hàng trong những phân khúc thị trường mục tiêu.
Phương diện khách hàng bao gồm năm thước đo điển hình chung nhất cho tất cả các loại hình tổ chức: Thị phần, giữ chân khách hàng, thu hút khách hàng mới, làm hài lòng khách hàng và khả năng sinh lời từ khách hàng. Những thước đo quan trọng này có thể được nhóm lại trong một chuỗi quan hệ nhân quả như sau: Thị phần Thu hút Khả năng sinh lời Giữ chân khách hàng từ khách hàng khách hàng Thỏa mãn khách hàng Hình 1.2 Phương diện khách hàng – những thước đo quan trọng (Nguồn: Robert Kaplan & David Norton, 1996) Năm thước đo này có vẻ là chung nhất cho tất cả các loại hình tổ chức. Tuy nhiên, để đạt được ảnh hưởng tối đa, các thước đo này cần phải được điều chỉnh 123doc 9 theo nhóm các khách hàng mục tiêu mà đơn vị kinh doanh mong đợi sẽ là những người đem lại sự tăng trưởng và khả năng sinh lợi lớn nhất.