chương 1 tập chung giới thiệu về hạ tầng truyền thông trên cao HAP và khả năng ứng dụng công nghệ FSO và WDM trong hạ tầng truyền thông trên cao HAP. Giới thiệu về truyền thông quang không dây FSO 1. Lịch sử phát triển FSO Truyền quang qua không gian tự do FSO hay giao tiếp quang không dây được giới thiệu lần đầu bởi Alexander Graham Bell ở cuối thế kỷ 19. Thí nghiệm FSO của Bell đó chính là ông đã chuyển đổi tín hiệu âm thanh (giọng nói) thành tín hiệu điện thoại và phát chúng giữa các bộ thu phát qua không gian tự do dọc theo một luồng sáng trong khoảng cách khoảng 183m.
Thiết bị thí nghiệm của ông được gọi là “photophone”, Bell coi trọng công nghệ quang này hơn là điện thoại – phát minh vĩ đại của ông vì công nghệ này không cần đến dây dẫn cho việc truyền tín hiệu. Mặc dù photophone của Bell không bao giờ được đưa vào thương mại hóa nhưng nó đã giải thích các đặc tính cơ bản của truyền thông quang không dây. Sau này, vào thời gian đầu các công nghệ FSO xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1960 trong các dự án liên quan đến quân sự và không gian (NASA). Đến cuối những năm 1980 những sản phẩm thương mại đã xuất hiện nhưng không thành công vì những rào cản công nghệ như cự li ngắn, dung lượng thấp, vấn đề về giữ thẳng hàng giữa bộ phát và bộ thu cũng như những thách thức về thời tiết, môi trường truyền dẫn là những hạn chế chính của hệ thống FSO vào thời điểm đó.
Luan van 5 Trong những năm gần đây, truyền thông quang tốc độ cao đã và đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong mạng viễn thông. Truyền thông quang được chia thành 2 loại: Truyền thông quang qua sợi quang và truyền thông quang không dây. Trong đó, truyền thông quang không dây đang nổi lên như là một công nghệ có thể phát triển cho các ứng dụng vô tuyến băng rộng trong nhà và ngoài trời thế hệ kế tiếp. Phạm vi các ứng dụng là từ các kết nối truyền thông không dây cự ly ngắn cung cấp truy nhập mạng cho các máy tính xách tay, cho đến các đường kết nối dặm cuối giữa các người dùng đầu cuối và hệ thống truyền thông sợi quang đường trục hiện thời, và thậm chí cả các liên kết truyền thông quang trong không gian vũ trụ [1,2].
Truyền thông quang không dây trong nhà thường dùng là truyền thông không dây hồng ngoại, còn truyền thông quang không dây ngoài trời được biết phổ biến dưới tên gọi truyền thông quang qua không gian (FSO). Trong ứng dụng truyền thông không dây hồng ngoại, các kết nối không trực tiếp, không yêu cầu sự thẳng hàng một cách chính xác giữa máy phát và máy thu. Chúng có thể được phân loại thành các kết nối tầm nhìn thẳng (LOS) và các kết nối khuếch tán. Kết nối LOS yêu cầu một tuyến đường thông suốt, không bị tắc nghẽn cho việc truyền thông tin cậy, trong khi các kết nối khuếch tán dựa vào các tuyến đường quang khác nhau từ các phản xạ bề mặt.
Tuy nhiên, FSO chỉ sử dụng các kết nối LOS trực tiếp và các kết nối quang điểm tới điểm qua bầu khí quyển từ máy phát tới máy thu. Truyền thông FSO qua khoảng cách một vài kilomet có thể đạt tới tốc độ dữ liệu hàng Gbps. Tóm lại, FSO (hay truyền thông quang không dây) có thể được định nghĩa là công nghệ viễn thông sử dụng sự truyền lan ánh sáng trong không khí để truyền tín hiệu giữa hai điểm. Đây là công nghệ truyền thông băng rộng tầm nhìn thẳng, trong đó tín hiệu quang thay vì truyền trong sợi quang, được phát đi trong một búp sóng quang qua không gian.
Một mạng truyền thông quang không dây bao gồm các bộ thu – phát quang (gồm một khối thu và một khối phát) cung cấp khả năng thông tin hai chiều. Mỗi khối phát quang sử dụng một nguồn quang và một thấu kính để phát tín hiệu quang qua không gian tới khối thu. Tại phía thu, một thấu kính khác được sử dụng để thu tín hiệu, thấu kính này được nối với khối thu có độ nhạy cao qua một Luan van 6 sợi quang. Một tuyến FSO bao gồm hai bộ thu – phát được đặt trong tầm nhìn thẳng.
Thông thường, các bộ thu phát được gắn trên nóc các tòa nhà hoặc sau các cửa sổ như hình 1.1: Hệ thống truyền thông quang không dây mặt đất [2].2: Hệ thống truyền thông quang trong không gian[2]. Luan van 7 Với các hệ thống FSO mặt đất cự ly hoạt động của một tuyến FSO từ vài trăm km đến vài km. Với các hệ thống FSO trong không gian hình 1.2, cự ly kết nối có thế vài chục km (từ mặt đất tới hạ tầng trên cao HAP và ngược lại); vài trăm tới vài nghìn km (từ mặt đất tới vệ tinh quỹ đạo thấp LEO và ngược lại); cự ly thậm chí còn xa hơn đối tới các vệ tinh địa tĩnh GEO hoặc tàu thăm dò các vì sao. Cấu trúc hệ thống truyền thông quang không dây Các thành phần chính trong hệ thống truyền thông không dây gồm bộ phát kênh truyền FSO và bộ thu.
Sơ đồ khối của một tuyến FSO điển hình được thể hiện trên hình 1. Sơ đồ khối của hệ thống truyền thông quang không dây [2]. a) Bộ phát Dữ liệu đầu vào phía nguồn được truyền tới một đích ở xa. Phía nguồn có cơ chế điều chế sóng mang quang riêng, điển hình như laser được truyền đi như một trường quang qua kênh khí quyển.
Các mặt quan trọng của hệ thống phát quang là kích cỡ, công suất và chất lượng búp sóng, các đặc điểm này xác định cường độ laser và góc phân kỳ nhỏ nhất có thể đạt được từ hệ thống. Phương thức điều chế được sử dụng rộng rãi tại bộ phát là điều chế cường độ (IM), trong đó cường độ phát xạ của nguồn quang sẽ được điều chế bởi số liệu cần truyền đi. Việc điều chế được thực hiện thông qua việc thay đổi trực tiếp cường độ của nguồn quang tại bộ Luan van 8 phát hoặc thông qua bộ điều chế ngoài như bộ giao thoa MZI. Việc sử dụng một bộ điều chế ngoài nhằm đảm bảo tốc độ dữ liệu đạt được cao hơn so với bộ điều chế trực tiếp.
Các thuộc tính khác của trường bức xạ quang như pha, tần số và trạng thái phân cực cũng có thể được sử dụng để điều chế với cùng dữ liệu thông tin thông qua việc sử dụng bộ điều chế ngoài. Tín hiệu sau điều chế từ nguồn quang (LED hoặc LASER) được tập hợp bởi một thấu kính và phát qua môi trường khí quyển tới phía thu. Một số loại nguồn quang sử dụng phổ biến trong các hệ thống FSO được liệt kê trong Bảng 1.1: Một số loại nguồn quang sử dụng phổ biến trong các hệ thống FSO [4] Loại nguồn quang Bƣớc sóng (nm) Đặc điểm Rẻ và có tính khả dụng; không có Phát xạ mặt khoảng ~ 850 hoạt động làm mát; mật độ công cộng hưởng dọc suất thấp; tốc độ lên tới ~ 10 Gbit/s. Thời gian sống lâu; tiêu chuẩn an toàn cho mắt thấp hơn; mật độ công suất cao hơn 50 lần (100 nW/ Fabry – Perot ~ 1300/~ 1550 cm2); tương thích với bộ khếch đại LD EDFA, tốc độ cao lên tới 40 Gbit/s; độ dốc hiệu quả 0,03 – 0,2 W/A.
Đắt tiền và tương đối mới; truyền rất nhanh với độ nhạy cao; truyền Thác lượng tử ~ 10000 dẫn trong sương mù tốt hơn; thành phần chế tạo không có sẵn; không thâm nhập qua thủy tinh. Rẻ hơn; mạch điều khiển đơn giản; LED Hồng ngoại gần công suất và tốc độ dữ liệu thấp hơn. Hiện nay, hầu hết các hệ thống FSO đều sử dụng phương pháp điều chế khóa Luan van 9 đóng mở (OOK) vì tính đơn giản của nó. Sự đơn giản của OOK được thể hiện ở sự có hay không có sóng mang truyền đi, tương ứng với bit dữ liệu đầu vào là “1” hay “0”.
Một ví dụ về kỹ thuật điều chế này được thể hiện trong hình 1. Trong đó, bit 0 được biểu diễn bằng sóng mang “off ’ (biên độ sóng mang giảm về gần bằng 0), bit 1 được biểu diễn bằng sóng mang “on” (biên độ xác định khác không).4: Điều chế OOK nhị phân. b) Kênh truyền dẫn khí quyển Kênh truyền dẫn quang của hệ thống FSO khác so với kênh nhiễu Gauss thông thường, vì trong truyền dẫn quang, tín hiệu đầu vào kênh x(t) thể hiện công suất chứ không phải biên độ. Điều này dẫn đến hai đặc trưng của tín hiệu phát: i) Tín hiệu x(t) không âm.
ii) Giá trị trung bình của x(t) không vượt quá công suất tối đa quy định Pmax (1.1) ∫ ( ) Kênh truyền FSO chứa các phân tử khí, các hạt bụi, khói và có những hình thái thời tiết khác nhau như mưa, sương mù,. Lượng mưa trong khí quyển phụ thuộc vào vị trí địa lý của từng vùng và theo từng mùa. Mật độ của các hạt cao nhất khi ở gần bề mặt trái đất và giảm khi tăng độ cao lên đến tầng điện ly. Do đó, bầu khí quyển là một môi trường không đồng nhất, trường quang khi truyền qua bầu khí quyển sẽ bị tán xạ hoặc bị hấp thụ dẫn đến suy giảm công suất.
Luan van 10 Một điểm quan trọng khác của kênh truyền FSO là tính nhiễu loạn. Khi ánh sáng từ mặt trời chiếu xuống trái đất, các tia bức xạ bị hấp thụ và làm nóng bề mặt trái đất. Sự nóng bề mặt này tạo nên sự không đồng nhất trong không khí khi mà các vùng nóng, lạnh gặp nhau gây ra sự thay đổi về chiết suất, mật độ theo không gian và thời gian. Nhiễu loạn khí quyển phụ thuộc vào áp suất khí quyển, độ cao, tốc độ gió và sự biến thiên của chỉ số khúc xạ do nhiệt độ không đồng nhất.
Các ảnh hưởng của nhiễu loạn khí quyển bao gồm: Lệch chùm tia: độ lệch của chùm tia (búp sóng quang) so với đường truyền thẳng (LOS) gây ra mất tín hiệu tại máy thu. Hình ảnh “nhảy múa”: cường độ đỉnh của tín hiệu quang thu được di chuyển trong mặt phang thu do sự thay đổi góc đến của các chùm tia. Trải rộng chùm tia: độ phân kỳ của chùm tia tăng do tán xạ dẫn đến giảm mật độ công suất thu. Nhấp nháy: sự thay đổi mật độ công suất ở các vị trí khác nhau tại mặt phang thu gây ra bởi giao thoa trong các chùm quang.
Giảm sự kết hợp không gian: nhiễu loạn khí quyển cũng gây ra suy giảm sự kết họp pha dọc theo mặt phang pha của chùm tia. Điều này đặc biệt ảnh hưởng tới máy thu coherent.