PHẦN MỞ ĐẦU 1. L do ch n ề tài Kinh tế nƣớc ta đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao mức sống của ngƣời dân. Cùng với đó nhu cầu thực phẩm của ngƣời dân ngày càng gia tăng cả về số lƣợng và chất lƣợng, trong đó rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi gia đình. Để đáp ứng nhu cầu về rau cho ngƣời dân ngày càng tăng quy mô sản xuất rau ngày càng phát triển.
Năm 2017, diện tích đất canh tác rau quả của Việt Nam là 937.300 ha với tổng năng suất đạt 16,5 triệu tấn. Xuất khẩu trái cây và rau quả của cả nƣớc đạt 3,5 tỷ USD trong năm 2017 và đạt 2 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2018 (Đặng Phúc Nguyên, 2018). Vùng sản xuất rau lớn nhất là đồng bằng sông hồng (chiếm 24,9% về diện tích và 29,6% sản lƣợng rau cả nƣớc), tiếp đến là vùng đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 25,9% về diện tích và 28,3% sản lƣợng rau cả nƣớc). Trong thực tế hiện nay để phục vụ nhu cầu sản xuất rau trên quy mô lớn nhƣ đề cập ở trên, các loại thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thuốc trừ sâu … đã đƣợc sử dụng với liều lƣợng rất lớn.
Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân hoá học khiến cho rau bị nhiễm bẩn do dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng và vi sinh vật có hại vƣợt mức cho phép. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến những căn bệnh dễ gây tử vong về thần kinh, tiêu hoá, tim mạch, ung thƣ ở ngƣời tiêu dùng và ngƣời dân vùng sản xuất ngày càng gia tăng. Với dân số 7,26 triệu ngƣời nhu cầu tiêu thụ rau của thành phố Hà nội rất lớn khoảng 1 triệu tấn/năm (Cục thống kê thành phố Hà Nội, 2015). Phát triển sản xuất rau không chỉ là nội dung quan trọng của tái cơ cấu ngành Nông nghiệp mà còn hƣớng đến nền sản xuất nông nghiệp đô thị.
Những năm qua, trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã tập trung xây dựng các mô hình trồng rau, mang lại lợi ích cho cả ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng, bên cạnh đó sản xuất rau cũng gây ra các tác động môi trƣờng đăc biệt là đối với môi trƣờng đất tại khu vực 1 trồng rau. Là một huyện ngoại ô thuộc Hà Nội, Gia âm có đủ điều kiện tự nhiên để phát triển sản xuất rau với cả mô hình chuyên canh và luân canh và có đủ điều kiện để đƣa tiến bộ khoa học vào sản xuất rau. Việc đánh giá hiện trạng chất lƣợng đất trồng rau trên địa bàn huyện Gia Lâm là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và quản lý chất lƣợng đất trồng rau trên địa bàn. Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng chất lượng đất trồng rau tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội”.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng sản xuất rau tại một số xã trên địa bàn huyện Gia Lâm: Lệ Chi, Văn Đức, Đặng Xá. - Đánh giá hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng đất tại 3 xã Lệ Chi, Văn Đức, Đặng Xá thuộc huyện Gia Lâm. - Đề xuất giải pháp cải thiện chất lƣợng môi trƣờng đất trồng rau tại 3 xã Lệ Chi, Văn Đức, Đặng Xá. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tình hình sản xuất rau trên thế giới và trong nƣớc. Tình hình sản xuất rau trên thế giới. Rau là cây trồng ngắn ngày có giá trị dinh dƣỡng và hiệu quả kinh tế cao nên đã đƣợc trồng và sử dụng từ lâu đời. Tình hình sản xuất rau trên thế giới hiện nay cũng có những biến động nhằm đáp ứng nhu cầu của ngƣời tiêu dùng.
Hiện có 120 chủng loại rau đƣợc sản xuất ở các vùng khác nhau nhƣng chỉ có 12 loại chủ yếu đƣợc trồng nhiều chiếm khoảng 80% diện tích rau toàn thế giới. Tình hình sản xuất rau trên thế giới hiện nay có nhiều biến động theo thị trƣờng và nhu cầu của con ngƣời. Theo số liệu của Statista (2019) diện tích rau đƣợc thể hiện trong Hình 1.1 ta thấy phần lớn sản lƣợng rau trên thế giới tập trung vào khu vực Châu Á với sản lƣợng là 834.2 triệu tấn vƣợt trội hoàn toàn so với các khu vực khác, theo sau là Châu Âu với sản lƣợng 92,26 triệu tấn.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới 2017 Nguồn: Statista, 2019 Hầu hết các nƣớc EU là những nƣớc trồng nhiều rau quả. Tuy nhiên, điều kiện khí hậu ở Châu Âu đã gây cản trở rất nhiều đến việc trồng trọt của họ.
Phƣơng thức trồng trong nhà kính chỉ phần nào bù đắp đƣợc lƣợng 3 thiếu hụt. Ngoài ra, việc sản xuất rau quả của EU còn bị hạn chế bởi tính mùa vụ và điều đó tạo cơ hội cho các nhà cung ứng ở các nƣớc khác tham gia vào thị trƣờng này vào thời điểm trái mùa, cho dù hiện nay hệ thống dự trữ và phân phối đã rất hiện đại, giúp các nhà sản xuất giảm đáng kể những tác động tiêu cực của tính mùa vụ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đối với ngƣời Châu Âu, chủng loại rau quả và trái cây mà họ tiêu dùng rất phong phú, bao gồm sản phẩm từ khắp nơi trên thế giới. Nguồn cung của những sản phẩm này chủ yếu là từ những ngƣời gieo trồng thƣờng xuyên và một số là từ sản lƣợng theo mùa vụ của những ngƣời Châu Âu trồng tại nhà.
Những mặt hàng đƣợc ƣa chuộng nhất ở đây là khoai tây, cà chua, cà rốt, hành, dƣa leo, táo, nho, lê. Tình hình sản xuất rau của thế giới năm 2008 STT Tên quốc gia Sản lƣợng (triệu tấn) Tỉ lệ (%) Thế Giới 1.774 3,16 5 Thổ Nhĩ Kỳ 36.276 2,48 7 Tây Ban Nha 29.124 0,80 Nguồn: Hà Văn Anh (2014) Sản lƣợng rau theo quốc gia đƣợc thể hiện trong Bảng 1.1, theo đó Ấn Độ là quốc gia có sản lƣợng rau lớn thứ 2 thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Sản lƣợng rau của 4 Ấn Độ năm 2008 chiếm 9,22% sản lƣợng rau toàn thế giới đạt 127. Diện tích trồng rau tại Ấn Độ là 6,2 triệu ha, chiếm 3% tổng diện tích trồng trọt.
Năm 1993, Ấn Độ xuất khẩu 68.500 tấn rau đã qua chế biến. Và kể từ đó đến nay, tốc độ tăng trƣởng kim ngạch xuất khẩu rau đạt trung bình 25% và lƣợng xuất khẩu đạt 16%. Trong đó, lƣợng xuất khẩu hành chiếm 93% tổng khối lƣợng xuất khẩu rau tƣơi của Ấn Độ. Ngoài ra, Ấn Độ còn xuất khẩu một số các sản phẩm rau tƣơi khác nhƣ: khoai tây, cà chua, đậu, cà rốt, ớt…Các thị trƣờng nhập khẩu rau tƣơi chủ yếu của Ấn Độ là các quốc gia vùng vịnh, Anh, Sri anka, Malaysia và Singapo.
Mặc dù, đứng thứ 2 thế giới về sản lƣợng rau tƣơi nhƣng năng suất trung bình của các loại rau Ấn Độ còn thấp hơn so với các nƣớc khác trên thế giới. Hiện tại ở Ấn Độ, nguyên liệu rau tƣơi không đủ để cung cấp cho các nhà máy chế biến. Các loại rau nhƣ: khoai tây, cà chua, hành, bắp cải và súp lơ có tổng khối lƣợng chiếm khoảng 60% sản lƣợng rau của Ấn Độ. Rau tƣơi của Ấn Độ hiện đƣợc trồng phổ biến trên đồng ruộng.
Điều này trái ngƣợc với các quốc gia phát triển nơi mà kỹ thuật trồng rau trong nhà đang đƣợc áp dụng giúp đạt năng suất và sản lƣợng rau cao hơn nhiều. Ngành sản xuất rau tƣơi của Ấn Độ đang đề nghị chính phủ giúp đỡ nguồn nguyên liệu trồng trọt có chất lƣợng tốt, giảm sử dụng hạt giống cây lai, nâng cao trình độ quản l và trình độ kỹ thuật để tăng sản lƣợng rau của Ấn Độ (Đào Duy Tâm, 2004). Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam. Việt Nam là nƣớc nhiệt đới thuận lợi cho nhiều loại rau sinh trƣởng và phát triển tạo nguồn rau phong phú và đạt năng suất cao.
Tuy nhiên do chịu sự ảnh hƣởng của nền nông nghiệp tự túc trong nhiều thập kỷ cho nên ngành trồng rau còn có một khoảng cách rất xa so với tiềm năng của tự nhiên và trình độ canh tác. Nghề trồng rau ở nƣớc ta còn manh mún, chủ yếu tự cấp, tự túc, chủng loại còn nghèo chƣa tƣơng xứng với tiềm năng về đất đai, khí hậu và nguồn lao động dồi dào. Ngay cả trong những năm gần đây, mức độ phát triển vẫn chƣa theo kịp các cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Do đó, cần có nhiều 5 biện pháp thiết thực để tăng năng suất và chất lƣợng cây rau, thúc đẩy ngành trồng rau của nƣớc ta phát triển hơn.
Trong những năm gần đây (2001 - 2005) nghề trồng rau ở nƣớc ta phát triển khá mạnh, tăng cả về diện tích và sản lƣợng qua các năm (Bảng 1. Năng suất rau nhìn chung ít dao động nhƣng diện tích tăng từ 494.000(ha) (năm 2005) đã giúp sản lƣợng rau tăng từ 6.000 tấn trong cùng kỳ.2: Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam 2001-2005 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (tấn) 2001 494.000 Nguồn: Hà Văn Anh (2014) Diện tích, năng suất và sản lƣợng rau phân theo vùng kinh tế đƣợc thể hiện trong Bảng 1. Nhìn chung nghề trồng rau đang trên đà phát triển với 2 khu vực chính là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng song Cửu Long chiếm diện tích và sản lƣợng lớn nhất.3: Diện tích, năng suất, sản lƣợng rau phân theo vùng Diện tích Năng suất Sản lƣợng TT Vùng (1000 ha) (tạ/ha) (1000 tấn) 1999 2005 1999 2005 1999 2005 1 ĐBSH 126,7 158,6 157 179,9 1988,9 2852,8 2 TDMNBB 60,7 91,1 105,11 110,6 637,8 1008 3 BTB 52,7 68,5 81,2 97,8 427,8 670,2 4 DHNTB 30,9 44 109 140,1 336,7 616,4 5 TN 25,1 49 177,5 201,7 445,6 988,2 6 ĐNB 64,2 59,6 94,2 129,5 604,9 772,1 7 DBSCL 99,3 164,3 136 166,3 1350,5 2732,6 Nguồn: Hà Văn Anh (2014) Hiện nay rau đƣợc sản xuất theo 2 phƣơng thức: tự cung tự cấp và sản xuất hàng hoá, trong đó rau hàng hoá tập trung chính ở 2 khu vực: 6 Vùng rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân cƣ. Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp, với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá, song mức độ không an toàn sản phẩm rau xanh và ô nhiễm môi trƣờng canh tác rất cao.
Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lƣợng lớn, cây rau đƣợc trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu. Tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng: phục vụ ăn tƣơi cho cƣ dân trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.