Đặc trưng của văn học *Khái niệm văn học Văn học theo nghĩa rộng là tên gọi chung mọi tác phẩm bằng ngôn ngữ nói hay viết, bao gồm cả văn học thuật và văn hư cấu. Theo nghĩa hẹp chỉ sáng tác ngôn từ bằng hư cấu, tưởng tượng, biểu hiện tình cảm con người như thơ, tiểu thuyết, tản văn, kịch,… Ngày nay, văn học được dùng để chỉ một loại hình sáng tạo nghệ thuật, bao gồm thơ ca, tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn, kí, kịch… Khái niệm văn học thường được sử dụng tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn. Tuy nhiên, xét về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương. *Một số đặc trưng của văn học 1.
Đặc trưng tư tưởng xã hội Văn học chịu sự tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác (đạo đức, triết học, tôn giáo và đặc biệt là chính trị). Ví dụ Mahabharata là một trong hai cuốn Sử thi tiếng Phạn Ấn Độ cổ, bao gồm 110.000 câu thơ đôi (sloka), là thiên sử thi dài nhất trên thế giới, gấp 7 lần tổng số câu thơ của hai bộ sử thi Hy Lạp cổ đại là Iliad và Odyssey. Tác phẩm này được coi là "Đại Bách khoa toàn thư" về văn hóa truyền thống, về các truyền thuyết và về các thể chế chính trị - xã hội của Ấn Độ cổ xưa. Nó là tấm gương phản chiếu toàn bộ đời sống con người Ấn Độ truyền thống như lời một câu ngạn ngữ cổ: "Cái gì không thấy được ở trong Mahabharata thì cũng không thể nào thấy được ở Ấn Độ." Cuốn sử thi này cũng chiếm vị trí quan trọng trong triết học và tôn giáo tại Ấn Độ, do nó có lồng ghép cuộc đối thoại triết lý dài tới 700 câu thơ giữa dũng sĩ Arjuna và thần Krishna trước khi khai chiến.
Phần thơ triết học kỳ diệu này được xem như một tác phẩm độc lập hoàn chỉnh mang tên Bhagavad Gita (Chí tôn ca), một kinh văn quan trọng hàng đầu của Ấn Độ giáo (đạo Hindu). Nhà văn mang một thân phận xã hội, thể hiện những vấn đề xã hội và thời đại trong tác phẩm Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược giành độc lập, thống nhất đất nước, là một hiện thực vĩ đại, qua đó đã tạo nên một đội ngũ nhà văn - chiến sĩ mang khát vọng lớn, có trách nhiệm với đất nước và dân tộc; đồng thời cũng đã tạo nên một nền văn học tiên phong trong lịch sử phát triển văn học nước nhà, xây dựng nên một nền văn học cách mạng, hiện đại, dân tộc; có rất nhiều tác giả, tác phẩm xứng đáng là những di sản tinh thần vô giá cho đời sau. Trong thời máu lửa, câu khẩu hiệu: “Văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa" đã trở thành phương châm sống và sáng tác của các văn nghệ sĩ. Nhà thơ Xuân Diệu đã viết một cách thấm thía tình cảm của người nghệ sĩ gắn trang văn câu thơ với nhịp đập của trái tim nhân dân một thời gian khổ: "Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu Tôi sống với cuộc đời chiến đấu Của triệu người yêu dấu gian lao” (“Những đêm hành quân") Văn học luôn thể hiện quan niệm về thế giới và nhân sinh một cách cụ thể, sinh động, lý giải và cắt nghĩa thế giới xung quanh bằng hình tượng văn học Hình tượng được tạo nên bằng tư duy trừu tượng, là cái mà người ta có thể tưởng tượng ra, hình dung ra, đằng sau lớp vỏ ngữ âm vật chất của ngôn từ.
Vì vậy, cái gì xuất hiện trong tâm tưởng, trong ý nghĩ, con người có thể tưởng tượng ra được, hình dung ra được, đều có thể trở thành hình tượng nghệ thuật, trong đó có ma. Thế giới nghệ thuật của tác phẩm ngôn từ là thế giới thứ hai, bao giờ cũng có điểm trùng khớp và khả năng mở rộng hơn thế giới thứ nhất là thế giới của thực tại. Ví dụ ma là kết quả của tư duy trừu tượng mở rộng vượt lên thực tại của con người, tung hoành trong vùng đất thứ hai mạnh mẽ hơn và yếu ớt hơn, rực rỡ và mờ nhạt hơn nhờ tính kỳ ảo của nó. Từ Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ,… đến Trăm năm cô đơn của G.
Marquez, Con ma của G.Boccacio, Người đi xuyên tường của Marcel Aymé…, ma càng ngày càng phát triển trong tư duy nghệ thuật của nhân loại. Bóng ma trong trang sách làm giàu cho tác phẩm nghệ thuật. Tính chất xã hội của văn học được đặt trong mối quan hệ với độc giả Sự phản hồi của độc giả tạo thành dư luận xã hội xung quanh tác phẩm. Harry Potter là tên của bộ truyện (gồm bảy phần) của nữ nhà văn nước Anh J.
Ngay từ khi xuất bản phần một, bộ truyện ngày càng nổi tiếng trên toàn thế giới, được giới phê bình hoan nghênh và rất thành công về mặt thương mại. Bộ truyện cũng nhận được một số lời chỉ trích, bao gồm cả việc lo ngại về vẻ đen tối ngày càng tăng. Nhờ vào sự thành công của bộ truyện, J. Rowling đã trở thành nhà văn giàu nhất trong lịch sử văn học.
Cả bộ truyện 7 quyển, với quyển 2 thứ 7 được chia thành 2 phần, dựng thành 8 bộ trong loạt phim cùng tên trở thành loạt phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại. Tính tư tưởng cần thể hiện trong sự chân thành và trung thành, hướng về chân lý và cái thiện Chẳng hạn tác phẩm “Anna Karenina” của L.Tolstoy thể hiện tư tưởng của nhà văn về khát khao tình yêu cháy bỏng của người phụ nữ trong xã hội Nga. Bên cạnh đó, tác giả còn thể hiện cái nhìn thương cảm với nhân vật thông qua việc ngoại tình bị xã hội lên án. Đặc trưng thẩm mỹ Văn học là một hình thái ý thức xã hội, nhưng điểm khác biệt quan trọng của văn học nằm ở sự phản ánh ý thức thẩm mỹ, ở bản chất thẩm mỹ.
Bản chất thẩm mỹ bao gồm những thành tố: Cảm xúc thẩm mỹ: Là phẩm chất của con người có thể bộc lộ được rung cảm đặc biệt khi nhận biết được những hiện tượng thẩm mĩ trong đời sống và trong nghệ thuật. Thị hiếu thẩm mỹ: Là thái độ tình cảm khiến người ta phải đánh giá trực tiếp, tức thời trước cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài trong cuộc sống và nghệ thuật. Quan niệm thẩm mỹ: Là những đánh giá, suy nghĩ chủ quan và khách quan của con người về đời sống và nghệ thuật. Lý tưởng thẩm mỹ: Là sự tổng hòa hữu cơ những biểu hiện cao nhất của sự hoàn thiện trong hoạt động thẩm mĩ ở những lĩnh vực khác nhau của con người.
Văn học khám phá thẩm mỹ trong phạm trù chính: Cái đẹp: Nghệ thuật không chỉ là nơi độc quyền sản xuất ra cái đẹp, nhưng nó là hình thức chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao nhất, tập trung nhất, lãnh trách nhiệm nặng nề nhất trong việc thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của xã hội. Trong trường hợp phải mô tả cái xấu, cái ác, tác phẩm nghệ thuật vẫn có thẻ trở thành đối tượng của sự cảm thụ thẩm mĩ. Nhà văn Nga Gôgôn, tác giả “Những linh hồn chết” đã từng nói rằng trong tác phẩm này tất cả đều là nhân vật phản diện, chỉ có một nhân vật tích cực duy nhất-đó là tiếng cười. Tiếng cười của nhà văn gắn liền với những lí tưởng xã hội tiến bộ, xuất phát từ những tiêu chuẩn rất cao về con người, vì vậy nó cũng gắn liền với sự hoàn thiện, với cái đẹp.
Cái cao cả: Cái cao cả làm cho cuộc sống không bị tầm thường và nhỏ bé đi, làm cho thế giới hiện ra lúc nào cũng to lớn, khó khăn nhưng cũng đầy cảm hứng về những thử thách. “Những tấm lòng cao cả” là một cuốn tiểu thuyết trẻ em của nhà văn người Ý Edmondo De Amicis, lấy bối cảnh trong lúc nước Ý đang thống nhất cũng như nói về đề tài yêu nước. Xuyên suốt tiểu thuyết là những vấn đề xã hội như sự nghèo đói. Những tấm lòng cao cả được yêu chuộng vì văn phong giản dị và ý nghĩa giáo dục về tình nhân ái.
3 Cái bi: Bản chất của cái bi là xung đột. Cái bi thường gắn với mất mác, đau thương. Thằng gù nhà thờ Đức Bà kết thúc cũng là khi mọi mâu thuẫn, bi kịch được giải thoát bằng những cái chết đau đớn, để lại những nỗi oán hờn, những nỗi buồn xác xơ lòng người.Việc thể hiện cái bi trong nghệ thuật giúp chúng ta lĩnh hội cuộc sống sự phong phú, phức tạp của nó. Đồng thời khơi dậy những tình cảm cao cả, kích thích những hành động mãnh liệt và sự tham gia tích cực vào cuộc sống.
Cái hài: Cái hài thường gắn với cái cười. Không chỉ mang lại sự dí dỏm mà khi dám cười tức là dám khẳng định cái xấu là cái xấu, cái đáng ghét, đáng cười. Nhà văn châm biếm Aziz Nesin có cách kể chuyện hài hước và hâm biếm về những vấn đề xã hội, Cái hài, trào phúng và châm biếm của tác giả được bộc lộ một cách rất sâu cay qua tác phẩm “Những người thích đùa”. Đặc trưng ngôn từ nghệ thuật Văn học phân biệt với các loại hình nghệ thuật khác là lấy ngôn từ làm chất liệu.
Có thể nói, vũ khí của nhà văn là ngôn từ, văn chương quan trọng nhất là chữ nghĩa, từ ngôn từ nghệ thuật ta nhận ra hiện thực, tài năng, thái độ của nhà văn thể hiện trong tác phẩm. Bên cạnh điểm mạnh, văn học cũng đối mặt với những thách thức: người đọc phải hiểu biết ngôn ngữ của tác phẩm, có khả năng tưởng tượng và tái tạo hình tượng văn học. Dù đang lao đao với Covid-19, người dân Ý vẫn tổ chức “Ngày Dante quốc gia” lần đầu tiên tại Roma, kỷ niệm 700 năm ngày thi hào của họ rời khỏi nhân gian. Sau 7 thế kỷ, “Thần khúc” được xem là tác phẩm kinh điển của nền thi ca nhân loại, đã được in ấn tại hơn 160 quốc gia trên thế giới.
Tại Việt Nam, bản dịch đầu tiên của “Thần khúc” xuất hiện vào năm 1979, do giáo sư Lê Trí Viễn và nhà thơ Khương Hữu Dụng cùng chuyển ngữ. Tuy nhiên, bản dịch ấy chỉ có 30 khúc. Đúng 30 năm sau, năm 2009, “Thần khúc” đầy đủ do giáo sư Nguyễn Văn Hoàn chuyển ngữ, đã ra mắt công chúng.