LỜI MỞ ĐẦU Cùng với sự bùng nổ của truyền dẫn vô tuyến, tần số vô tuyến điện trở thành một nguồn tài nguyên hữu hạn vô cùng quý giá, và ngày càng trở nên chật hẹp, vì vậy cần được sử dụng một cách hiệu quả. Với việc ngày càng có nhiều nguồn phát vô tuyến dẫn tới việc xuất hiện ngày càng nhiều các nguồn gây nhiễu tiềm tàng (máy phát có thể phát không đúng tần số được cấp phép, phát ra các sản phẩm hài, phát xạ ngoài băng… gây can nhiễu tới các hệ thống thông tin vô tuyến khác). Bên cạnh đó, với sự phát triển của truyền dẫn thông tin số, việc giải điều chế các tín hiệu vô tuyến để từ nội dung đó, truy tìm ra nguồn nhiễu sẽ không khả thi, do vậy cần định hướng, định vị được nguồn phát. Từ những yêu cầu thực tế trên, luận văn “Các công nghệ định hướng, định vị và ứng dụng trong kiểm soát tần số” được thực hiện với mục đích nghiên cứu, giới thiệu các công nghệ, kỹ thuật định hướng, định vị hiện có và việc ứng dụng các công nghệ trên vào công tác kiểm soát tần số.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: CÁC CÔNG NGHỆ ĐỊNH HƢỚNG NGUỒN PHÁT XẠ 1.1 Định hƣớng sử dụng anten có hƣớng tính cao Đây là một kỹ thuật định hướng đơn giản, dựa vào đặc tính hướng của anten thu. Hệ thống định hướng chỉ gồm anten có hướng tính cao và 1 máy thu. Việc xác định hướng sóng tới dựa trên nguyên lý: điện áp tín hiệu thu là một hàm của góc quay anten. Đặc điểm của phương pháp này là cấu trúc hệ thống đơn giản nhưng độ chính xác không cao, thời gian định hướng lớn.
Phương pháp này được sử dụng theo hai nguyên lý cơ bản sau: 1.1 Định hướng theo nguyên lý cực đại.1: Thiết bị định hướng theo nguyên lý cực đại Sử dụng loại anten có tính hướng tính cao (độ rộng búp sóng cỡ vài độ), khi quay anten, hướng có cường độ tín hiệu cực đại chính là hướng đài phát đang hoạt động. Sai số định hướng lúc này có giá trị bằng một nửa độ rộng búp sóng của anten. Trong giải tần sóng ngắn và sóng cực ngắn, việc chế tạo được anten có búp sóng cỡ vài độ là cực kỳ khó khăn, vì vậy phương pháp này chỉ dùng ở giải tần cỡ vài GHz trở lên.2 Định hướng theo nguyên lý cực tiểu. Ngược lại với máy thu định hướng theo nguyên lý cực đại, phương pháp này sử dụng các loại anten có giản đồ hướng vùng cực tiểu của chúng là khá hẹp, lúc này hướng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của đài phát đang làm việc chính là hướng mà tại đó cường độ tín hiệu thu được là nhỏ nhất.
Để tạo ra dạng giản đồ hướng cực tiểu hẹp thường sử dụng biện pháp bù trừ giản đồ hướng của hai hoặc vài loại anten khác nhau. Ví dụ, máy thu định hướng xách tay AN/PRC-10 của Mỹ sử dụng 2 anten. Một anten khung có giản đồ hướng hình số 8 và một anten cần có giản đồ hướng tròn, khi cộng hai giản đồ hướng này với nhau, ta sẽ nhận được một giản đồ hướng mong muốn dạng Cácđiôit Giản đồ hướng anten khung Giản đồ hướng Giản đồ hướng tổng cộng anten cần hình cácđiôit Hình 1.2: Tạo giản đồ hướng cực tiểu từ việc cộng giản đồ hướng của 2 anten Phương pháp định hướng theo nguyên lý cực tiểu có ưu điểm là chỉ cần một máy thu với anten có kết cấu gọn nhẹ, dễ triển khai, thuận tiện cho việc cơ động, trinh sát luồn lách vào gần khu vực đối phương. Tuy nhiên do đo tại vùng cực tiểu của giản đồ hướng anten nên độ nhạy chung của hệ thống giảm đáng kể và làm giảm cự ly làm việc của máy thu định hướng.
Do vậy, máy thu định hướng cực tiểu thường là máy thu định hướng cự ly gần, trang bị cho lực lượng trinh sát kỹ thuật luồn sâu đến sát khu vực của đối phương để thực hiện định hướng kiểm chứng số liệu về hướng do các đài trinh sát tầm xa hơn đã xác định.2 Ứng dụng hiệu ứng Doppler. Đây là một phương pháp được áp dụng khá phổ biến trong các máy thu định hướng dải sóng cực ngắn. Phương pháp này sử dụng hiệu ứng Doppler để xác định hướng đến của nguồn phát xạ. Hiệu ứng Doppler là hiệu ứng thay đổi tần số của tín hiệu thu khi có sự chuyển động tương đổi giữa máy phát và máy thu.
Khi chuyển động này là theo hướng tiến lại gần nhau thì tần số tín hiệu thu sẽ tăng lên một lượng F gọi là tần số Doppler. Ngược lại, tần số thu sẽ giảm xuống. Tần số Doppler sẽ đạt giá trị lớn nhất (về giá trị tuyệt đối ) nếu hướng chuyển động là trùng với hướng sóng tới. Khi này, ta có: v F max (1.1) c Với : v là vận tốc chuyển động tương đối giữa máy phát và máy thu.10 8 m/s là vận tốc ánh sáng trong chân không.
Khi sự chuyển động là không trùng với hướng sóng tới thì F giảm xuống. Khi này ta có: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2) c Với: là góc tạo bởi hướng chuyển động và hướng sóng tới. Máy phát Máy thu Máy phát Máy thu Hướng chuyển động tương đối giữa máy thu Hướng chuyển động tương đối giữa máy thu và và máy phát trùng với hướng lan truyền sóng máy phát tạo với hướng lan truyền sóng một góc Hình 1.3: Hiệu ứng Doppler. Như vậy việc đo giá trị F sẽ cho phép ta xác định giá trị góc , tức là giá trị hướng c tới của máy phát arccos F v Dựa theo hiệu ứng Doppler đã phân tích ở trên, do việc quay bằng biện pháp cơ khí một anten với một vận tốc lớn là rất khó khăn nên người ta xây dựng bằng phương pháp giả Doppler: sử dụng hệ anten gồm nhiều chấn tử (8-16 chấn tử, thậm chí lớn hơn) sắp xếp trên một vòng tròn có bán kính R.
Các chấn tử này sẽ được lần lượt nối vào máy thu thông qua một bộ chuyển mạch điện tử có tần số quét là . Điều này sẽ mô phỏng được quá trình quay một anten bằng cơ khí. Như vậy, ta sẽ có: c c arccos F F (1.3) v R Rõ ràng rằng, phương pháp định hướng sử dụng nguyên lý Doppler càng chính xác nếu F càng lớn, tức là bán kính vòng tròn anten R và vận tốc quét anten càng lớn. Ta xem xét qua mô tả dưới hình vẽ cụ thể dưới đây: Hướng Bắc Bán kỳ có dịch Hướng tần Doppler âm sóng tới 1 A F 8 2 Tín hiệu sine Doppler Fmax 7 B A t q 3 1 2 3 4 5 6 7 8 1 -Fmax 6 4 q B 5 Bán kỳ có dịch tần Doppler dương Hình 1.4: Mô tả qua trình quét anten và dạng sóng sin Doppler thu được Tín hiệu sin Doppler sẽ cắt “0” tại hai điểm : điểm A (điểm anten gần nguồn phát nhất) và điểm B (điểm xa nhất).
Như vậy, ta chỉ việc xác định được vị trí điểm A so với điểm chuẩn (hướng Bắc) là xác định được góc phương vị q. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ đây, ta có thể mô tả sơ đồ khối đơn giản của máy thu định hướng sử dụng nguyên lý giả Doppler như sau: RF in Audio out Hệ thống anten và Tách tín hiệu dịch tần Đo và chỉ thị góc Máy thu FM chuyển mạch điện tử Doppler phương vị q Tạo các tín hiệu điều khiển Hình 1.5: Sơ đồ khối đơn giản máy thu định hướng sử dụng nguyên lý Doppler Ta thấy rằng, cấu trúc của máy thu định hướng sử dụng nguyên lý Doppler là khá đơn giản. Máy thu FM được sử dụng trong hệ thống không cần là máy thu chuyên dụng, có thể lựa chọn loại máy bất kỳ, điều này cho phép thiết kế, chế tạo thiết bị thu định hướng trên cơ sở sử dụng các máy thu vô tuyến điện đã có sẵn. Khó khăn nhất đối với việc thiết kế, chế tạo máy thu định hướng sử dụng nguyên lý Doppler cơ bản hiện nay chỉ còn gặp phải ở hệ thống anten và chuyển mạch điện tử.
Đó là: Việc chế tạo đồng nhất các chấn tử anten về các tham số hình học và các tham số điện. Sự cảm ứng tương hỗ vào chấn tử anten đang hoạt động từ các chấn tử khác còn lại (đang ở trạng thái hở mạch) gây sai số định hướng. Việc chuyển mạch anten gây ra các đột biến về cảm ứng điện từ, làm giảm độ nhạy của máy thu. Hiện nay, các vấn đề này đã được giải quyết tương đối thoả đáng bằng nhiều biện pháp, đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu về độ nhạy cũng như độ chính xác định hướng.
Tóm lại, ưu điểm của phương pháp định hướng sử dụng nguyên lý Doppler: Có độ nhạy, độ chính xác cao. Cấu trúc đơn giản, phù hợp với điều kiện công nghệ ở nước ta. Hạn chế được ảnh hưởng của tín hiệu phản xạ đa đường do hiệu ứng “capture”: tín hiệu lớn sẽ nén tín hiệu nhỏ ở trong máy thu FM sử dụng trong hệ thống. Nhược điểm: Do phải mất thời gian quét anten nên thời gian định hướng lớn, gặp khó khăn khi tín hiệu có thời gian tồn tại ngắn (như tín hiệu nhảy tần).
Không đo được góc ngẩng . Hệ thống anten có cấu trúc phức tạp.3 Nguyên lý Watson-Watt. Đây là phương pháp được sử dụng khá rộng rãi trong các thiết bị thu định hướng Vô tuyến điện ở dải sóng ngắn và sóng cực ngắn. Nguyên lý Watson-Watt sử dụng giá trị lệch pha của sóng tới từ nguồn phát xạ trên các anten khác nhau, trên cơ sở đó tính toán ra giá trị hướng sóng tới.
Về mặt nguyên lý, tín hiệu thu được từ đầu ra của anten có giản đồ hướng tính dạng sin/cosin (anten vòng chéo, anten feritte, anten adcock) sẽ được lọc, khuyếch đại và đưa tới 2 bản lệch X và Y của 1 ống cathode 1 tín hiệu blanking thu từ 1 anten vô hướng (như trên hình vẽ) có pha liên hệ biết trước cũng được đưa vào máy định 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Màn hình máy định hướng sẽ hiển thị một hình lissajuos có độ nghiêng tương ứng với góc tới của tín hiệu. Giá trị của góc phương vị được tính theo công thức: α = artan (Vx / Vy) Hình 1.6: Máy định hướng Watson-Watt với anten vòng chéo. Trong trường hợp lý tưởng hình lissajous sẽ là 1 đường th ng.