MỞ ĐẦU Tw phần này chúng ta sẽ xét tác dụng trong của lực lên vật rắn thực, tức là vật thể có thể thay đổi hình dạng, kích thước khi chịu tác dụng của môi trường xung quanh nó.MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Vật rắn biến dạng là tập hợp các chất điểm có các tính chất sau: 1. Về mặt vật lý a) Liên tục, đồng chất và đẳng hướng Vật rấn được gọi là liền tục nếu một phân tố bé tuỳ ý của nó đều chứa vô số chất điểm, được gọi là đồng chất khi tính chất cơ lý của nó tại mọi điểm đều như nhau và được gọi là đẳng hướng khi tính chất cơ lý của nó theo mọi hướng đều như nhau. b) Dan hồi tuyến tính, biến đạng bê và ở trạng thái tự nhiên Dưới tác dụng của ngoại lực, mọi vật rắn thực đều bị biến đạng vì ngoại lực làm thay đối vị trí tương đối vốn có giữa các phần tử cấu tạo nên vật ấy. Lực liên kết vốn có gi các phần tử (để gìữ cho vật rắn có một hình dạng nhất định) lúc đó sẽ thay đổi có khuynh hướng khôi phục lại vị trí ban đầu giữa các phần tử, Vật rắn được gọi là đàn hồi tuyệt đối nếu nó có khả năng phục hồi hoàn toàn hình dạng và kích thước ban đầu vốn có sau khú ngoại lực thôi tác dụng.
Biến dang được khôi phục hoàn toàn sau khi hết ngoại lực được gọi là biến dạng đàn hồi. Trong thực tế, không có những vật đàn hồi tuyệt đối. Đối với nhiều vat rấn khi ngoại lực chưa vượt quá một giới hạn nhất định thì biến dạng của nó là biến dạng đàn hồi, nhưng khi vượt quá giới hạn đó thì vật chỉ khối phục được 109 một phần biến dạng. Phần biến dạng không khởi phục được, gọi là biến dang déo hay biến dạng du, Vật đàn hồi tuyến tính là vật có biến dạng tỷ lệ bậc nhất với nội lực.
Những, vật đàn hồi khác được gọi là đàn hồi phi tuyến (quan hệ biến dạng và nội lực là ham phi tưyến). Biển đạng được coi là bé nếu nó rất nhỏ so với kích thước tương ứng của vật. Điều này cho phép bỏ qua các tích và các luỹ thừa của đạo hàm của biến dạng trong các tính toán. Trong một số bài toán, khí biến dạng bé, có thể xem điểm đặt của ngoại lực, do đó, vị trí tương đối của ngoại lực không thay đổi khi vật bị biến đạng.
“Tính chất này cùng với tính chất tuyến tính nói trên cho phép sử dụng nguyên lý cộng tác dụng (định luật III Newton). Về mặt hình học Vật rắn nghiên cứu có một trong ba đạng sau: a) Khối là mô hình của những vật thể có kích thước theo ba phương trực giao đều tương đương nhau. b) Tấm và vỏ là mô hình của những vật thể có hai kích thước rất lớn so với kích thước thứ ba. c) Thanh là mô hình của vật thể có kích thước theo một phương áp đảo hai phương cồn lại.
NOI LUC, UNG SUẤT VÀ BIẾN DẠNG 1. Nội lực và các bài toán cơ bản Xét một vật rắn cân bằng dưới tác dụng của hệ lực (Py. Ta tưởng tượng dựng một mặt cất qua một điểm nào đó chia vật làm hai phần. Hệ phản lực của phần vật thể bên phải tác dụng lên phần vật thể bên trái tại mặt cất vừa dung va ngược lại gọi là nội lực tại mật cắt đó.
Để thống nhất tên gọi nội lực, qua trọng tâm C của mặt cắt, ta chọn hệ trục toa độ như sau (hình §-1a). 110 ~ Trục Cz trùng với trục của thanh. - Trục Cx hướng về phía người quan sát. - Trục Cy lập thành một tam diện Cxyz, Khi thu gọn hệ nội lực tác dụng bất kỳ trên mat cắt về tâm C ta có 6 thành phần nội lực sau đây: Lực dọc ký hiệu là N, Lực cất hay lực ngang ký hiệu là Q, và Q, Ngẫu lực xoắn có mêmen M, ký hiệu là M, Ngau luc udn cS momen M, ky higula M, và M, Trong từng trường hợp cụ thể, một vài yếu tố nội lực có thể không có.
Các yếu tố nội lực xác định loại biến dạng tại tiết điện đang xét. Biến dang của vật thể nói chung có thể rất phức tạp, song bao giờ cũng là tổ hợp của những biến dạng cơ bản. Tương ứng với các biến đạng cơ bản, ta có bài toán cơ bản sau đây (hình 8-Ib, c, đ, e, g). 9) Hink 8-1 ttl 1) Kéo (hoặc nén) đúng tâm: nếu hệ nội lực ở mặt cắt ngang tương đương với một lực dọc N; # 0.
2) Cát (hay trượt): nếu hệ nội lực ở mặt cắt ngang tương đương với một lực ngang Q, # 0 hoac Q, # 0. 3) Xoán: nếu hệ nội lực Ở mặt cắt ngang tương đương với một ngẫu lực nằm trong mặt cắt, ngẫu lực này gọi là ngẫu lực xoắn, mêmen của nó ký hiệu là M, # 0. 4) Uốn: nếu hệ nội lực ở mặt cắt ngang tương đương với một ngẫu lực nằm trong mặt phẳng vuông góc với mặt cất, ngẫu lực này gọi là ngầu lực uốn, mômen của nó ký hiệu là M, z 0 hoặc M, z 0. Để biết loại biến dạng trong từng đoạn thanh và biết tại mặt cất nào nội lực đạt cực trị (mật cắt nguy hiểm), người ta vẽ đồ thị của nội lực đọc theo thanh.
Đồ thị này gọi là biểu đồ nội lực. Liên hệ vi phân giữa nội lực và ngoại lực Xét sự cân bằng của một phân tố thanh chiểu dài dz chịu lực tổng quát dương q,(2), qy(z), m;(2) (hình 8-2a, b, c). dz M q2 >0 M+ dM Ằ©—=——————+| N N+dN <_< <<<. Em (2) =0 7” my) = St Các kết quá này được phát biểu như sau: a) Đạo hàm cấp một theo phương z tương ứng với Qy(), N), M,(z) lần luot ba:.2 cường độ ngoại lực: qv(2), q,(2), m;(2).
b) Đạo hàm cấp một theo z của M,(2) bằng Q,). c) Dao ham cap hai theo z của M,(z) bằng q,(2). Ứng suất * Ứng suất là nội lực trên một đơn vị diện tích mặt cất Ứng suất tại một điểm có toa độ x,y trên mặt cắt khảo sát được ký hiệu là: > >p= AP lim —— AFD AF Có thể phân tích ứng suất p thank 3 thành phần theo 3 trục toa độ: 6,, T,« va t,,. Thanh phan o, theo phương pháp tuyến của mạt cắt gọi là ứng suất pháp, các thành phần t;, và t„y nằm trên mặt cắt gọi là ứng suất tiếp.
Trong ký hiệu ứng suất tiếp, chỉ số thứ nhất biểu thị phương pháp tuyến của mật cất z, còn chỉ số thứ hai biểu thị phương của ứng suất tiếp (x và y). -~ > > FS PHO, +x + Ty Khi thu gọn hệ ứng suất này về tâm C của mặt cất ta có 6 thành phần nội lực (hình 8-La) như sau: N,= fo,dF M,= fo, y.dF F F 8- CUDKT H3 Qe= fry,F M, = Jo, .dF F F Qy= [tay dF M,= Í(tạyx— tạ. Khái niệm về trạng thái ứng suất tại 1 điểm Ta hãy tưởng tượng tách ra quanh một điểm K trong vật thể đàn hồi chịu lực cân bằng một phân tố hình hộp có các cạnh là dx, dy, đz (hình 8-3) khi các cạnh phân tố tiến dần tới 0 thì phân tố thu nhỏ về điểm K. Trên các mặt cất khác nhau đi qua K các thành phần ứng suất có giá trị khác nhau.
Ta có định nghĩa sau đây: Tập hợp tất cả những ứng suất có thể có trên tất cả các mặt cắt có thể có đi qua một điểm gọi là trạng thái ứng suất tại điểm đô. Có thể chứng minh rằng tại mỗi điểm của vật thể bao giờ cũng có thể tìm được bà mặt cất vuông góc với nhau, trên đó chỉ có ứng suất pháp mà không có ứng suất tiếp. Những mặt ấy gọi là mặt chính, phương pháp tuyến của chúng được gọi là các phương chính. Ứng suất pháp trên các mặt ấy được gọi là các ứng suất chính.
Những ứng suất chính đồng thời là những ứng suất phấp cực trị của một trạng thái ứng suất. Các ứng suất chính được ký hiệu là ơ¡, 52, Øx theo quy ước; G¡>Gạ>Ơ0; Nếu cả ba ứng suất chính đêu khác không thì trang thái ứng suất ấy được gọi là trạng thái ứng suất khối. Nếu một trong ba ứng suất chính bàng không ta nói đó là trạng thái ứng suất phẳrg. Nếu chỉ một trong ba ứng suất chính khác không thì ta có trạng thái ứng suất dơn.
Các trạng thái ứng suất này lần lượt được cho trên các hình 8-3a, b, c, đ. ¥ oy Tx Tự Og +, 9, Ñ tự oy oy xÍ a a Tủ x Sự oy * Ỷ x 1 By b) 9) d) 114 5. Biến dạng và chuyển vị Dưới tác dụng của môi trường ngoài (tải trọng, nhiệt độ.) vật thể bị biến dạng. Xét điểm K trong vật thể đó (hình 8-4).
tt ức by Hình 8-4 Điểm K trước khi biến dạng có toa độ X, y, z và ở trạng thái biến dạng có vị trí mới K¡ với các toa do x’, y', z`. Sự thay đổi vị trí của một điểm K như vậy được gọi là chuyển vị của điểm đó. Chuyển vị này gồm hai loại: loại thứ nhất là chuyển vị của vat ran tuyệt đối (không có biến đạng) và loại thứ hai là chuyển vị liên quan đến biến dạng của vật thể. Trong phần này ta chỉ nghiên cứu loại thứ hai, 2 : >.
2 Khi bi bién dang diém K c6 vi ui K,. Vecto KK, goi là vectơ chuyển vị của điểm K có các thành phần theo phương x, y, z là w, v, u. Do đó chuyển vị của điểm A lần cận điểm K có thể viết: 115 ow Wa = Wet K dx : Ox Đại lượng €, = s gọi là biến dạng đài tỷ đối theo phương x của điểm K. x “Tương tự tá cớ theo các phương y và z các biến dạng: eu €&=—- Và g= Đ Sự thay đối góc vuông AKB trong mặt phẳng xy, tương tự như vậy trong các mặt phẳng còn lại được gọi là biến dạng góc hay biến đạng trượt trong các mặt phẳng đó và ký hiệu là: bye Loy) ay a mee Te a ta e hay Ty I.
BAC TRUNG CO HOC CUA VAT LIEU Để đảm bảo cho hệ làm việc được an toàn về độ bền, độ cứng và độ ổn định thì ta cần phải biết đặc tính ứng xử của từng loại vật liệu trong các điều kiện chất tải khác nhau. Điều này chỉ có thể giải quyết bằng con đường thí nghiệm. Các thí nghiệm này cho ta các đặc trưng bằng số của từng loại vật liệu. Những đặc trưng như thế gọi là đặc trưng cơ học của vật liệu.