CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ. Công nghệ và vai trò của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Cong nghệ và các yếu tốcấu thành cong nghệ Công nghệ có xuất xứ từ hai từ trong tiếng Hy Lạp cổ: techno là tài năng, sự khéo léo, kỹ thuật, nghệ thuật; và logy là lời lẽ, ngôn từ, cách diễn đạt, học thuyét'. Trước đây trong giai đoạn đầu Công nghiệp hoá, người ta thường dùng khái niệm kỹ thuật trong sản xuất, sau đó khái niệm công nghệ xuất hiện với ý nghĩa ban đầu rất hẹp, đơn giản chỉ là tuần tự các giải pháp kỹ thuật trong một dây chuyền sản xuất.
Ngày nay, tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu và đối tượng áp dụng khái niệm khác nhau về công nghệ. Theo từ điển thuật ngữ khoa học kỹ thuật của Liên Xô (cũ): “Công nghệ là tập hợp các quá trình, quy tắc, kỹ năng được áp dụng khi sản xuất một loại hình sản phẩm nào đó trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào. Thành phần quan trọng nhất của công nghệ là quá trình công nghệ, trình tự thao tác các công nghệ nhằm tạo ra một đối tượng nhất định, mà mỗi tác động lại dựa vào các quá trình tự nhiên nào đó và hoạt động của con người là sản phẩm đồng thời là nguồn phát triển của nền văn minh”? Theo Uỷ ban Kinh tế — Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) định nghĩa “Công nghệ là hệ thống tri thức về quy trình kỹ thuật chế biến vật liệu và ‘D6 Minh Cương: Những vấn dé cơ bản về quản lý khoa hoc và công nghệ — NXB Chính trị Quốc gia — Hà Nội 1998.G Iandpxki - 1987 ON thông tin. Nó bao gồm tất cả kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý”.
Với khái niệm này, công nghệ được mở rộng và hoàn thiện hơn. Công nghệ là tập hợp những công cụ, phương pháp dùng để biến đổi các nguồn lực sản xuất thành những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ nhu cầu con người. Như vậy, công nghệ đã được phân biệt rõ với khoa học và kỹ thuật. “Khoa học là lĩnh vực nghiên cứu nhằm đưa ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy” còn “kỹ thuật có thể hiểu là tổng hợp các tư liệu vật chất như công cụ lao động, năng lượng, vật liệu và phương pháp do con người sắng tạo ra và được sử dụng trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội”.
Với khái niệm công nghệ đã nêu trên, chúng ta cần xem xét công nghệ ở cả k4 hai khía cạnh: - Phần cứng: bao gồm máy móc, phương tiện và thiết bị., các yếu tố vật chất. - Phần mềm: là các yếu tố phi vật chất, bao gồm kỹ năng, kỹ xảo, bí quyết, công thức, kiến thức, trình độ quản lý. Với cách xem xét trên, chúng ta thấy công nghệ có cái đồng nhất với kỹ thuật, song cái khác nhau cơ bản là kỹ thuật chỉ nặng về phần cứng; còn công nghệ thì nặng về phần mềm của quy trình, bao gồm cả sự năng động trong nhận thức con người để cải tiến quy trình sản xuất, đặc biệt là khả năng chuyển giao công nghệ trong hoạt động san xuất kinh doanh. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, khi mà công nghệ thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh trên thị trường, khi tỷ lệ “phần mềm” có vị trí ngày càng quan trọng trong các quy trình công nghệ sản xuất.
Theo quan điểm phổ biến hiện nay thì công nghệ bao gồm 4 thành phần cơ bản tác động qua lại lẫn nhau. Hình thái vật chất của công nghệ: đó chính là phần cứng của công nghệ. Thông tin: Thông tin là các sơ đồ, bản vẽ, thuyết minh, dự án, mô tả sáng chế, chỉ dẫn ki thuật. Phần thông tin rất quan trọng, nó quyết định phần lớn sự thành công hay thất bại của hoạt động chuyển giao công nghệ.
Nó thường được tiến hành tìm kiếm trong khoảng thời gian dài và được hoàn thiện trước khi kí hợp đồng chuyển giao công nghệ. Thiét chế: Thiết chế là cơ cấu tổ chức, quản lý, bao gồm sự liên hệ, bố trí sắp xếp, đào tạo đội ngũ. cho các hoạt động như phân chia nguồn lực, tạo mạng lưới, lập kế hoạch, kiểm tra, tiến hành. Yếu tố con người.
Bao gồm kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm sản xuất làm việc có trách nhiệm và có năng suất cao của một đội ngũ nhân lực có sức khoẻ. Ba yếu tố sau gộp lại chính là phần mềm của công nghệ. Các thuộc tinh của công nghệ. Công nghệ là một hàng hoá trên thị trường, với tư cách là một hệ thống công cụ chế biến vật chất và thông tin, hàng hoá công nghệ có thuộc tính riêng.
Những thuộc tính này do 4 yếu tố cơ bản của công nghệ tạo nên, nó quyết định và ảnh hưởng trực tiếp tới việc mua bán, đánh giá, định giá, trao đổi, sử dụng công nghệ. Tĩnh hệ thống: Đó là mối quan hệ giữa bốn yếu tố cấu thành có mối liên kết thành một chuẩn mực nhất định để thực hiện tốt một công nghệ. Trang thiết bị là cốt lõi của bất kỳ sự chuyển đổi. Nó được phát triển, lắp đặt, vận hành bởi con người.
Yếu tố con người là yếu tố chủ chốt của bất kỳ thao tác chuyển đổi, nó được phần thêng tin hướng dẫn. Thông tin được tạo ra và được con người sử dụng để quyết định và vận hành trang thiết bị. Thiết chế tiếp nhận và kiểm soát phần thông tin, phần con người và phần trang thiết bị để tiến hành quá trình chuyển đổi. Bốn yếu tố này liên kết trực tiếp với nhau.
Trong đó yếu tố con người là phần tối quan trọng của công nghệ. Yếu tố thông tin đưa vào một loại vốn mới - vốn trí tuệ. Tính hệ thống thể hiện trình tự, bước thực hiện theo một chu trình nghiêm ngặt, theo quy trình, thời gian, địa điểm. trong từng yếu tố.
Tinh sinh thể và tiến hoá: Day là thuộc tính cơ thể sống, tức là bao đảm cung cấp các yếu tố đầu vào, có môi trường tốt, duoc thích nghi hoá, có bảo dưỡng, duy tri và hoàn thiện. Công nghệ chỉ có thể tổn tại và phát triển nếu được nuôi dưỡng. Nếu xem công nghệ như một đối tượng tinh, một sản phẩm “chết” thì trước sau công nghệ sẽ trở thành gánh nặng cho người sử dụng nó. Công nghệ nào cũng có riêng vòng đời của mình.
Cho dù công nghệ nhập từ nước ngoài hay công nghệ phát sinh trong nước đều trải qua những giai đoạn có quan hệ mật thiết lẫn nhau mà người ta gọi nó là vòng đời công nghệ: Nghiên cứu (Reseach), triển khai (Development), sản xuất (Production), thị trường (Marketing). Công nghệ mang bản chat thông tin. Day cũng là thuộc tính riêng của công nghệ. Do đó, việc xác định sở hữu, bảo vệ, đánh giá, xử lý, cập nhật.
trong việc mua bán công nghệ là hết sức phức tạp. Nó đòi hỏi có sự can thiệp và bảo hộ của hệ thống luật pháp không chỉ phạm vi quốc gia mà cả quốc tế. Đồng thời nó cũng đòi hỏi các kỹ năng linh hoạt và các kinh nghiệm trong quá trình thăm dò, tình báo, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ. Giữa thông tin công nghệ và thông tin khoa học có sự khác nhau.
Sự nhầm lẫn về bản chất này có thể dẫn đến những thiếu sót khi xử lý thông tin và thất bại khi sử dụng công nghệ. Thông tin công nghệ là thông tin có thể đem lại lợi nhuận ngay hôm nay hoặc ngày mai, còn thông tin khoa học có thể đem lại lợi nhuận sau một thời gian dài - 5 năm chang hạn. Thông tin khoa học thường đề cập sâu hơn về một đối tượng, ngược lại thông tin công nghệ lại thường tổng hợp nhiều khía cạnh. Thông tin công nghệ thường rất rộng, không chỉ dừng ở khía cạnh, mà còn bao quát cả khía cạnh thương mại hoá, sở hữu công nghiệp và những vấn đề xung quanh chuyển giao công nghệ.
Như vậy, công nghệ không chỉ đem lại thông tin về chi tiết kỹ thuật mà còn cung cấp ca các chi tiết khác về mặt công nghệ như đào tạo, huấn luyện, chuyên gia. Để sử dụng công nghệ cần có đầy đủ thông tin để đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn. Tinh đặc thù: (đặc thù theo mục tiêu). Nói đến công nghệ là nói đến sản phẩm cụ thể, hoặc là chế tạo sản phẩm, dich vụ, nâng cao chất lượng, tăng số lượng hoặc chủng loại, giảm tiêu hao trên số lượng đưa cu thể, không có công nghệ trừu tượng.
Khi một công nghệ được chuyển giao từ nơi này sang nơi khác thì nó trở nên khác trước. Khi trở nên lạc hậu ở một nước, không còn đáp ứng việc tạo ra sản phẩm mới thì ở nước khác nó có thể vẫn được coi là mới và thích hợp. Điều đó có nghĩa là lúc sản phẩm đang ở giai đoạn thoái trào tại chuyển giao công nghệ thì nó lại ở trong giai đoạn cao trào ở nước tiếp nhận công nghệ. Sự khác nhau này là do yếu tố của con người, môi trường, thị trường, các yếu tố đầu vào, văn hoá của một nước quyết định.
Điều này còn cho thấy quá trình chuyển giao công nghệ không đơn thuần là chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác, mà là cả một quá trình đặc thù của môi trường. Vai trò của công nghệ dối với sự phát triển kinh tế -xa hội. Khoa học công nghệ là một trong bốn nguồn lực quyết định sự phát triển của nền kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, khoa học công nghệ ngày càng có vai trò quyết định đến quá trình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, việc tìm ra những công nghệ mới, vật liệu mới và những nguồn năng lượng mới đã xuất hiện một kiểu tăng trưởng mới về chất - tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu trong điều kiện sản xuất phát triển dựa trên cơ sở của cuộc cách mạng khoa học hiện đại.
Khoa học công nghệ là điều kiện để có sản phẩm cuối cùng đạt chất lượng cao, tăng năng suất lao động xã hội, đảm bảo an toàn sản xuất, chống ô nhiễm môi trường sử dụng hợp lý tài nguyên quốc gia, thúc đẩy sản xuất phát triển nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của xã hội.