PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết đề tài Tôn giáo là một thiết chế có quá trình lịch sử hình thành từ lâu đời, có vai trò rất quan trọng trong đời sống tình thần của xã hội. Thiết chế này được khái quát hóa thành niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức (Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo, 2017). Việt Nam, một trong những quốc gia có truyền thống đa văn hóa, đa tôn giáo.
Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính Phủ năm 2018 tổng thể nước ta có 16 tôn giáo chính và 42 tổ chức trực thuộc được công nhận (Tổng Điều Tra Dân Số Và Nhà Ở, 2019). Mỗi tôn giáo đều có lịch sử hình thành khác nhau, có vai trò, phát triển khác nhau trong công cuộc đóng góp xây dựng đất nước. Nhưng đều thực hiện chung một mục đích phục vụ nhu cầu tín ngưỡng cho người dân, tín đồ trong cộng đồng tôn giáo được sinh hoạt, thể hiện niềm tin của mình và giữ vững bổn phận đối với tôn giáo đó (Bùi Thị Thủy, 2018). Cùng với sự biến đổi của đất nước, trong tôn giáo cũng có sự thay đổi rõ rệt mà cụ thể là hiện tượng chuyển đổi từ tôn giáo này sang một tôn giáo khác đang có xu hướng ngày càng phổ biến.
Sự du nhập của các tôn giáo mới với hệ thống lễ nghi đơn giản, hỗ trợ đời sống vật chất đã phần nào tác động đến niềm tin của người dân. Xu hướng này phần lớn thường tập trung nhiều ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi và một bộ phận dân cư này theo đạo Tin Lành. Đạo Tin Lành ra đời ở Châu Âu vào đầu thế kỷ XVI ,được du nhập vào Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do tổ chức Hội Truyền Giáo CMA (The Christian and Missionary Alliance) truyền vào (Nguyễn Thanh Xuân, 2008). Tôn giáo du nhập tương đối muộn so với với các tôn giáo khác như: Phật giáo, Công giáo.
Sau năm 1945, đạo Tin Lành có sự phát triển nhanh chóng rõ rệt và nhân rộng ra các địa bàn vùng núi dân tộc thiểu số. Đến nay có thể nói đạo Tin Lành tồn tại như một thực thể văn hóa, tác động đến đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Không ngoài những ảnh hưởng đó, ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng có 2 những chuyển biến rõ rệt, trong đó có dân tộc Chăm. Người Chăm có lịch sử hình thành lâu đời gắn liền với lịch sử đất nước Việt Nam, khởi nguyên từ nhà nước Champa ảnh hưởng sâu sắc nền văn minh Ấn Độ.
Dân tộc này hiện nay cùng sinh sống xen kẽ với các dân tộc khác, chủ yếu tập trung ở miền Trung và Nam Trung Bộ, bởi đây là vùng đất quốc gia của họ trong quá khứ. Cấu trúc văn hóa người Chăm chia làm ba cộng đồng tách biệt theo ba hình thức tôn giáo khác nhau: Chăm Ahier theo đạo Bà La Môn, Chăm Awal theo đạo Bà Ni, trong nhóm Chăm Awal tách làm hai nhóm, một nhóm theo Islam và nhóm còn lại theo Bà Ni (Phan Hữu Dật, 2018). Ninh Thuận là vùng đất người Chăm hiện đang sinh sống nhiều nhất, theo thống kê của tỉnh năm 2019 trên toàn tỉnh có 67,517 người dân tộc Chăm đang sinh cùng với các dân tộc khác (Cục Thống Kê Ninh Thuận, 2019), theo tôn giáo chính là Bà La Môn, Bà Ni (Hồi giáo cũ). Với những biến động trong tôn giáo cũng như tác động các tôn giáo ngoại sinh cụ thể là đạo Tin Lành, hiện nay trong cộng đồng dân tộc Chăm đã có hiện tượng một số người theo đạo Bà La Môn đã từ bỏ tôn giáo truyền thống tham gia sinh hoạt trong đạo Tin Lành.
Tại xã Phước Hậu - Ninh Thuận nơi có nhà thờ Tin Lành đang sinh hoạt truyền đạo, với tổng số người Chăm trên toàn xã 8,128 người, phần lớn là dân tộc Chăm Ahier theo đạo Bà La Môn sống xen kẽ với dân tộc Kinh và Raglai. Người Chăm tại đây tham gia sinh hoạt trong nhà thờ Tin Lành ngày càng có xu hướng tăng, dưới hai hình thái sinh hoạt chính thức và phi chính thức (điểm nhóm chưa công nhận). Thay đổi này xuất phát điểm từ nhiều yếu tố khác nhau trong nội bộ tôn giáo truyền thống, xã hội và trên hết là tác động của tôn giáo Tin Lành. Vấn đề chuyển đổi hình thức tâm linh này phần nào thể hiện sự suy yếu nền văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm.
Đồng thời, vấn đề tham gia sinh hoạt đạo Tin Lành ảnh hưởng đến đời sống hôn nhân vợ chồng người dân tộc, vì xã hội Chăm vẫn theo chế độ mẫu hệ. Ngoài ra, trường hợp gia đình chỉ có một người tham gia Tin Lành gây ra mâu thuẫn, xung đột và phá vỡ tính cố kết giữa những thành viên trong hộ gia đình, dòng tộc. Quan trọng hơn chính là những người trưởng thôn, sư cả (thầy tế lễ), cùng các người không chuyển đổi họ có sự nhìn nhận về vấn đề này và những người Chăm cải đạo 3 như thế nào? Có gây khó khăn cho công tác quản lý tại địa phương hay không khi có những biến động trong cộng đồng xã hội? Vì vậy, dưới cách tiếp cận xã hội học, nghiên cứu này tìm hiểu về vấn đề chuyển đổi tôn giáo của người Chăm theo đạo Bà La Môn khi tham gia sinh hoạt đạo Tin Lành tại xã Phước Hậu tỉnh Ninh Thuận. Thông qua các khía cạnh về: Nguyên nhân dẫn đến quyết định chuyển đổi và ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của vấn đề này trong đời sống người Chăm trên phương diện cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu những chiều kích về yếu tố tác động, ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của vấn đề chuyển đổi tôn giáo của người Chăm theo đạo Tin Lành tại xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận trên ba cấp độ: cá nhân, gia đình dòng họ và cộng đồng. Ở mỗi cấp độ, sẽ tìm hiểu ảnh hưởng trên bình diện nhận thức, tinh thần và trên các khía cạnh cụ thể về kinh tế, văn hóa, xã hội. Mục tiêu cụ thể Trình bày khái quát về tình hình hoạt động của đạo Tin Lành tại xã Phước Hậu và thực trạng vấn đề người Chăm theo đạo Tin Lành.
Phân tích các yếu tố tác động đến quyết định theo đạo Tin Lành của người Chăm tại xã Phước Hậu. Giải thích vấn đề chuyển đổi tôn giáo của một số nhóm dân tộc Chăm đang sinh hoạt đạo Tin Lành tại tư gia và nhà thờ. Chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực từ những thay đổi trong hành vi, nhận thức của người Chăm theo đạo Tin Lành đối với kinh tế, văn hóa, xã hội cùng một số vấn đề xảy ra trong đời sống cá nhân, gia đình dòng họ, tổ chức truyền thống cộng đồng Chăm. Câu hỏi nghiên cứu 3.
Câu hỏi chính Yếu tố nào tác động đến quyết định người Chăm tham gia sinh hoạt trong Hội Thánh Tin Lành? Việc từ bỏ tôn giáo truyền thống theo đạo Tin Lành có thay đổi gì trong lối sống, hành vi, nhận thức của người Chăm? Sự chuyển đổi này có ảnh hưởng đến cá nhân, gia đình và các mối quan hệ xã hội trong đời sống người dân tộc Chăm như thế nào? 3. Câu hỏi phụ Vấn đề chuyển đổi tôn giáo của một số người Chăm đã dẫn đến những mâu thuẫn xung đột trong đời sống gia đình - dòng tộc như thế nào? Chế độ mẫu hệ phải chăng có mối liên quan đến sự thay đổi hình thức sinh hoạt tâm linh của người Chăm? Tổ chức truyền thống của dân tộc Chăm sẽ có những phản ứng như thế nào khi những thành viên trong cộng đồng sinh hoạt theo đạo Tin Lành? 4. Giả thuyết nghiên cứu Đạo Tin Lành là một tôn giáo độc thần, với tư duy duy lý đã đưa đến những thay đổi khá lớn ở những người Chăm theo đạo Bà La Môn – là một tôn giáo đa thần và theo tư duy truyền thống bám chặt vào quá khứ. Những hủ tục tốn kém, cộng với yếu tố quyền lợi và tranh giành chức vị trong tôn giáo truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc người Chăm quyết định theo đạo Tin Lành ngày càng có xu hướng tăng tại xã Phước Hậu.
Chuyển đổi tôn giáo đem đến thay đổi tích cực trong nhận thức, hành vi của người Chăm về lối sống (không rượu bia, bài bạc,…), kinh tế, văn hóa, xã hội. Bên cạnh đó lại có ảnh hưởng tiêu cực dẫn đến xung đột trong đời sống vợ chồng, ảnh hưởng đến chế độ mẫu hệ vốn làm cho người đàn ông mất tự do, tự chủ trong gia đình. 5 Sự chuyển đổi tôn giáo theo Tin Lành có những tác động đến dòng tộc, tổ chức tôn giáo và cộng đồng địa phương tại xã Phước Hậu. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 5.
Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu hướng vào việc tìm hiểu những chiều kích của việc chuyển đổi tôn của người Chăm khi theo đạo Tin Lành xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cụ thể là các yếu tố tác động và ảnh hưởng của sự chuyển đổi này trên ba bình diện: cá nhân, gia đình – dòng họ và cộng đồng xã hội. Khách thể nghiên cứu Nhằm để so sánh, nghiên cứu này chủ yếu tập trung tìm hiểu những hộ gia đình Chăm có chuyển đổi theo Tin Lành và hộ không theo đạo Tin Lành tại xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Đồng thời, nghiên cứu cũng tìm hiểu ý kiến, quan điểm của lãnh đạo chính quyền địa phương (công an xã, ban Mặt Trận Tổ Quốc xã) và lãnh đạo tôn giáo ở địa phương: các mục sư. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện ở các hộ gia đình dân tộc Chăm tại xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận và các nhóm người Chăm theo đạo Tin Lành sinh hoạt tại tư gia và nhà thờ.
Phương pháp nghiên cứu Trước khi tiến hành khảo sát, phân tích các dữ liệu trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu từ những công trình có trước liên quan đến vấn đề chuyển đổi tôn giáo của các nhà nghiên cứu. Kết quả của phương pháp này giúp phát triển ý tưởng, ứng dụng mô hình lý thuyết, phân tích các khái niệm liên quan, cơ sở lý luận thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, đề tài sử dụng các công cụ phân tích và thu thập thông tin khác trong phương pháp định tính và định lượng.