CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ IPV4 VÀ IPV6 1. Tổng quan về IPv4 1. Đây là phiên bản đầu tiên của IP được sử dụng rộng rãi. Giao thức này được công bố bởi IETF trong phiên bản RFC 791 (tháng 9 năm 1981), thay thế cho phiên bản RFC 760 (công bố vào tháng 1 năm 1980).
Giao thức này cũng được chuẩn hóa bởi bộ quốc phòng Mỹ trong phiên bản MIL-STD-1777 Hình 1. 1: IPv4 được viết dưới dạng nhị phân 1. Cấu trúc địa chỉ IPv4 Địa chỉ IP được chia thành 2 phần là network (phần mạng) và phần Host Địa chỉ IP có 32 bit nhị phân và được chia thành các octet (4 cụm, 8 bit) Các quy tắc được áp dụng khi đặt địa chỉ IP: 3 - Các bit phần mạng không được phép đặt đồng thời bằng 0 ( Ví dụ: Không hợp lệ nếu đặt địa chỉ 0.1 với phần mạng 0.0 và phần Host là 1). - Sẽ có một địa chỉ mạng nếu các bit phần Host đồng thời có giá trị bằng 0 (Ví dụ : Địa chỉ 192.1 có thể gán cho Host nhưng thay giá trị 0 vào 192.0 sẽ thành địa chỉ mạng và không thể gán cho Host).
- Sẽ có địa chỉ Broadcast cho mạng nếu các bit phần Host đồng thời bằng 1 ( Ví dụ: Mạng 192.255 là địa chỉ Broadcast). 2: Cấu trúc địa chỉ IPv4 1. Các lớp của địa chỉ IPv4 + Lớp A: - Lớp A của địa chỉ IPv4 sử dụng octet đầu làm phần mạng và 3 octet sau làm Host - 0 luôn được chọn là bit đầu của địa chỉ lớp A - Các địa chỉ mạng lớp A gồm 1.0 - Mạng Lookback là 127.0 - Phần Host gồm 24 bit, mỗi mạng lớp A có 224 – 2 Host 4 Hình 1. 3: Lớp A của địa chỉ IPv4 + Lớp B - Hai octet đầu của địa chỉ lớp B được dùng làm phần mạng, 2 octet sau được dùng làm Host - 1 và 0 luôn được giữ cho hai bit đầu của địa chỉ lớp B - Địa chỉ mạng lớp B gồm 128.0 (tổng cộng có 214 mạng trong lớp B) - Một mạng lớp B có 216 – 2 Host vì phần Host của lớp này dài 16 bit Hình 1.
4: Lớp B của địa chỉ IPv4 + Lớp C: - Địa chỉ lớp C dùng 3 octet đầu làm phần mạng và octet sau làm phần Host - 1 , 1 và 0 được giữ cho ba bit đầu của địa chỉ lớp C - Mạng lớp C bao gồm các địa chỉ 192.0 (tổng cộng 221 mạng trong lớp C) 5 - Một mạng lớp C có 28 – 2 Host do phần Host của lớp này dài 8 bit Hình 1. 5 Lớp C của đại chỉ IPv4 + Lớp D: - Lớp D bao gồm các địa chỉ từ 224.255 - Lớp D được dùng làm địa chỉ Multicast.5 dùng cho OSPF hay 224.9 dùng cho RIPv2 + Lớp E: - Gồm các địa chỉ từ dải 240.0 trở đi - Địa chỉ lớp E được dùng với mục đích dự phòng 1. Một số lưu ý về các lớp của IPv4 - Các lớp địa chỉ IP gồm A, B, C được dùng để đặt cho các Host – Khi muốn xác định địa chỉ IP thuộc lớp nào, nên quan sát octet ở vị trí đầu tiên của địa chỉ đó. Octet nằm trong khoảng giá trị từ: 1 đến 126: địa chỉ lớp A 128 đến 191: địa chỉ lớp B 192 đến 223: địa chỉ lớp C 224 đến 239: địa chỉ lớp D 6 240 đến 255: địa chỉ lớp E 1.
Hạn chế của IPv4 Hình 1. 6 Hạn chế của IPv4 - Không có bất cứ cách thức bảo mật nào đi kèm trong cấu trúc thiết kế của địa chỉ IPv4: Phương tiện hỗ trợ mã hóa dữ liệu cũng không được tích hợp trong IPv4. Do đó, lưu lượng truyền tải giữa các Host không được bảo mật mà chỉ bảo mật phổ biến ở mức ứng dụng. Áp dụng IPSec – một phương thức bảo mật phổ biến tại tầng IP thì việc bảo mật lưu lượng đầu cuối bị hạn chế.
- Một hạn chế nữa của IPv4 đó là việc thiếu hụt không gian địa chỉ: Do phiên bản này chỉ sử dụng 32 bit để đánh địa chỉ nên không gian của nó chỉ có 232 địa chỉ. Như vậy, cùng với sự bùng nổ của internet thì tài nguyên địa chỉ IPv4 đang dần cạn kiệt. Phiên bản này gần như đáp ứng không đủ so với nhu cầu sử dụng. Để khắc phục những hạn chế của IPv4 đồng thời mang lại những đặc tính mới cho hoạt động mạng thế hệ tiếp, người ta đã đầu tư nghiên cứu và cho ra đời một giao thức internet mới.
Giao thức IP thế hệ mới (thế hệ 6: IPv6) ra đời để khắc phục những nhược điểm của phiên bản tiền nhiệm. IPv6 bao gồm 128 bit, có chiều dài gấp 4 lần so với địa chỉ IPv4. Các tính năng của IPv6 1. Dạng mào đầu gói tin mới Phần header của IPv6 được giảm xuống mức tối thiểu bằng việc chuyển tất cả các trường phụ hoặc không cần thiết xuống phần header mở rộng nằm sau phần IPv6 header.
Việc tổ chức phần header hợp lý này làm tăng hiệu quả xử lý tại các router trung gian. IPv6 header và IPv4 header là không tương thích với nhau, do đó các node phải được cài đặt cả 2 phiên bản IP mới có thể xử lý các header khác nhau này. Không gian địa chỉ lớn hơn: IPv6 sử dụng 128 bit để đánh dấu địa chỉ nên số lượng địa chỉ có được là rất lớn khoảng 3,4. Với không gian địa chỉ lớn như vậy cho phép phân chia địa chỉ thành nhiều mức khác nhau từ mạng trục, mạng trung gian đến địa chỉ cho mạng riêng của từng tổ chức.
Hiện tại mới chỉ có một số ít các địa chỉ dùng cho các host nên số lượng địa chỉ dự phòng cho tương lai là rất nhiều do đó sẽ không cần phải sử dụng kỹ thuật NAT nữa. Tự động cấu hình địa chỉ: Tương tự như IPv4 với IPv6 cũng cung cấp khả năng cấu hình địa chỉ tự động sử dụng DHCP. Đồng thời nó còn đưa ra khả năng tự động cấu hình địa chỉ khi không có DHCP server. Trong một mạng các host có thể tự động cấu hình địa chỉ của nó bằng cách sử dụng IPv6 prefix nhận được từ router (gọi là địa chỉ link – local).
Hơn nữa nếu trong một mạng mà không có router thì host cũng có thể tự động cấu hình địa chỉ link – local cho nó để thông tin với các host khác. Với sự phát triển nhanh chóng của mạng Internet cũng bị hạn chế bởi sự phức tạp trong việc sử dụng nên giao thức IPv6 được xây dựng với tiêu chí đơn giản dễ sử dụng ngay cả 8 với người không hiểu biết về công nghệ. Điều này đưa đến một đặc điểm của IPv6 chỉ yêu cầu một phần nhỏ cho việc cấu hình và bảo dưỡng mạng. An ninh thông tin: Các cơ chế bảo mật được tăng cường, có phần tiều đề dành cho bảo mật tương ứng với hai kỹ thuật bảo mật trong Ipsec là: AH và ESP.
Giao thức IPv6 hỗ trợ toàn bộ các tính năng của IPsec và cho phép sử dụng các thuật toán mã hóa, chứng thực và tính toàn vẹn dữ liệu Đây là một tiêu chuẩn cho an ninh mạng đồng thời mở rộng khả năng làm việc được với nhau của các loại sản phẩm. Hỗ trợ qos tốt hơn: Phần header của IPv6 được đưa thêm một số trường mới. Trường Flow Label trong IPv6 header được dùng để nhận dạng luồng dữ liệu. Từ đó router có thể có những chính sách khác nhau với các gói tin có luồng dữ liệu khác nhau.
Do trường Flow Label nằm trong IPv6 header nên QoS vẫn được đảm bảo khi phần tải trọng có mã hóa bởi IPSec. Giao thức mới cho thông tin giữa các host liền kề: Giao thức khám phá node liền kề (Neighbor Discovery) của IPv6 bao gồm hàng loạt các mesage điều khiển dạng ICMPv6 nhằm điều khiển sự tương tác giữa các node trong cùng một mạng kết nối. Giao thức này thay thế cho các bản tin phát quảng bá phân giải địa chỉ ARP, bản tin tìm kiếm router ICMP Router Discovery, ICMP redirect của IPv4 bằng các bản tin unicast và mutlticast Neighbor Discovery. Cấu trúc, phân bổ và cách viết địa chỉ IPv6 1.
Cấu trúc gói tin IPv6 trong mạng lan Giao thức IPv6 được đưa ra nhằm thay thế giao thức IPv4 hiện nay do đó nó gần như chỉ liên quan tới các lớp trên trong mô hình OSI. Đối với các lớp dưới như 9 lớp datalink và lớp vật lý thì không bị ảnh hưởng. Gói tin IPv6 được truyền trong mạng nội bộ LAN có cấu trúc như sau: Phần header và trailer: phần được đóng gói của gói tin IPv6 khi ở lớp 2. IPv6 header: phần mào đầu của gói tin IPv6 Payload (tải trong): mang thông tin của các lớp trên.
Link Link IPv6 layer Payload Layer Header Header Trailer Hình 1. 7 Cấu trúc khung của IPv6 tại lớp 2 trong mạng LAN Đóng gói kiểu Ethernet II: dạng khung truyền dẫn của IPv6 có dạng như hình 2 với giá tị của trường EtherType là 0x86DD ( của IPv4 là 0x800). Kích thước của gói tin IPv6 sử dụng kiểu đóng gói Ethernet II là từ 46 tới 1500 byte. Destination Address: địa chỉ MAC nguồn, Source Address: địa chỉ MAC đích.
8: Cấu trúc khung truyền dẫn IPv6 trong mạng Ethernet II 1. Phân bổ địa chỉ IPv6 Tương tự như IPv4 không gian địa chỉ IPv6 cũng được phân chia dựa theo giá trị của các bít đầu hay còn gọi là phương thức định dạng theo tiền tố FP (Format Prefix). Hiện tại không gian địa chỉ IPv6 được định dạng theo tiền tố như bảng sau (theo rfc2373): 10 Tỉ trong trong Phân bổ Tiền tố không gian địa chỉ Dự trữ 0000 0000 1/256 Chưa gán 0000 0001 1/256 Dự trữ phân bổ cho NSAP 0000 001 1/128 Dư trữ phân bổ cho IPX 0000 010 1/128 Chưa gán 0000 011 1/128 Chưa gán 0000 1 1/32 Chưa gán 0001 1/16 Các địa chỉ dành cho Global Unicast 001 1/8 Chưa gán 010 1/8 Chưa gán 011 1/8 Chưa gán 100 1/8 Chưa gán 101 1/8 Chưa gán 110 1/8 Chưa gán 1110 1/16 Chưa gán 1111 0 1/32 Chưa gán 1111 10 1/64 Chưa gán 1111 110 1/128 Chưa gán 1111 1110 0 1/512 Địa chỉ Link-local Unicast 1111 1111 10 1/1024 Địa chỉ Site-local Unicast 1111 1111 11 1/1024 11 Địa chỉ Multicast 1111 1111 1/256 Bảng 1. 1: Bảng phân bổ các loại địa chỉ IPv6 Theo sự phân bổ này, có một phần được dành cho địa chỉ NSAP, địa chỉ lPX và địa chỉ trong các mang riêng ảo (VPN).
Phần còn lại của không gian địa chỉ chưa được gán sẽ được sử dụng trong tương lai.