Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp "Chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng trưởng vùng Đồng bằng sông Cửu Long" được sinh viên Trần Thị Hợp (MSV: 11162071, Lớp Kinh tế học 58, Khoa Kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) thực hiện năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Việt Hùng.

Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới năm 1986 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển dịch sang cơ chế thị trường, đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến sự phân bổ lại các nguồn lực xã hội, trong đó biến động cơ cấu lao động giữ vai trò then chốt. Sự dịch chuyển lao động từ các khu vực có mức năng suất và thu nhập thấp sang các ngành có năng suất và thu nhập cao hơn đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) và cải thiện mức sống dân cư.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp lớn nhất Việt Nam. Vùng chiếm 47% diện tích và 56% sản lượng lúa cả nước, đóng góp 90% sản lượng gạo xuất khẩu; đồng thời chiếm 70% diện tích, 40% sản lượng và 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn quốc. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp làm dôi dư lao động nông thôn, ĐBSCL chịu tác động sâu sắc từ làn sóng CNH, HĐH. Việc nghiên cứu thực trạng và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu lao động đến tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL là yêu cầu thực tiễn cấp bách.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là đo lường và phân tích các tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế tại vùng ĐBSCL. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Đánh giá tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động của vùng ĐBSCL giai đoạn 2010 - 2018 trong mối tương quan với bối cảnh chung của cả nước.
  2. Đánh giá và lượng hóa đóng góp của việc thay đổi cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế vùng.
  3. Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL nhanh và hiệu quả hơn.

Đề tài tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và tăng trưởng của vùng ĐBSCL trong giai đoạn vừa qua diễn ra như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế vùng được thể hiện ra sao qua mô hình lượng hóa?
  • Câu hỏi 3: Cần thực hiện các giải pháp nào để quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng trưởng kinh tế ở vùng ĐBSCL diễn ra đồng bộ, hiệu quả?

Giả thuyết nghiên cứu được đặt ra: Các yếu tố về quy mô và cơ cấu lao động có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế của vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2011 - 2018.

  • Đối tượng nghiên cứu: Chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng trưởng kinh tế và tác động qua lại giữa chuyển dịch cơ cấu lao động với tăng trưởng kinh tế.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành (nông nghiệp; công nghiệp - xây dựng; dịch vụ) và tăng trưởng năng suất lao động nội ngành, liên ngành tại các tỉnh vùng ĐBSCL.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2010 - 2018 (chuỗi số liệu lượng hóa giai đoạn 2011 - 2018).
  • Phạm vi không gian: 12 tỉnh/thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề tài xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm kinh tế học chuẩn tắc:

  • Lao động và sức lao động: Theo quan điểm của C. Mác, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất. Lao động là hoạt động có mục đích của con người tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất.
  • Lực lượng lao động (LLLD): Gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm (theo Luật Lao động Việt Nam quy định độ tuổi từ 15 đến hết 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ trong giai đoạn nghiên cứu).
  • Cơ cấu lao động (CCLD): Thể hiện tỷ trọng của từng bộ phận lao động cấu thành trên tổng số lao động xã hội, được phân theo độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn kỹ thuật, ngành kinh tế, thành phần kinh tế và vùng lãnh thổ.
  • Chuyển dịch cơ cấu lao động (CDCCLD): Quá trình thay đổi tỷ trọng và chất lượng lao động phân bổ giữa các ngành, các vùng nhằm sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế.

Về tổng quan nghiên cứu, tác giả hệ thống hóa các công trình quốc tế và trong nước:

  • Quốc tế: Syrquin (1986) chỉ ra xu hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp và tăng lao động công nghiệp khi thu nhập tăng; Mark J. Roberts và James R. Tybout (1996) nghiên cứu tái phân bổ nguồn lực; Nick Draper và Ton Mander (1996) phân tích sự thay thế lao động tại Hà Lan; Angela Clinton (1997) nghiên cứu lao động ngành dịch vụ tại Mỹ; Vit Sorm và Katherine Terell (2000) nghiên cứu chuyển dịch lao động tại Cộng hòa Séc; Lakhwinder Singh (2004) dùng phương pháp Constant Shift-Share Method (CSSM) đánh giá năng suất sản xuất Hàn Quốc; Francesco Quatraro (2012) tiếp cận theo mô hình Schumpeter tại Ý; Choi Hyelin, Jung Sung Chun và Kim Subin (2017) phân tích đóng góp của công nghệ và phân bổ lao động tại Hàn Quốc.
  • Trong nước: Thang Mạnh Hợp (2001) dùng hệ thống chỉ số phân tích kết cấu lao động và năng suất xã hội; Lê Xuân Bá nghiên cứu chuyển dịch lao động nông thôn; Võ Thanh Dũng và cộng sự (2010) dùng mô hình hồi quy Probit phân tích chuyển dịch lao động tại Cần Thơ; Huỳnh Phạm Dũng Phát (2012) nghiên cứu CCLĐ Tiền Giang; Vũ Thị Thu Hương (2017) sử dụng mô hình dữ liệu bảng phân tích tác động CDCCLD đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam; Trần Thị Luyến (2017) phân tích thực trạng CDCCLD giai đoạn 2006 - 2016; Nguyễn Thị Quý Ngọc (2017) nghiên cứu thống kê CCLĐ Bắc Ninh; Phạm Thị Hướng và Võ Bá Thiên (2018) dùng phương pháp SSA đánh giá năng suất lao động.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Thu thập và xử lý số liệu: Khai thác số liệu thứ cấp giai đoạn 2010 - 2018 từ Tổng cục Thống kê và Viện Năng suất Việt Nam về lực lượng lao động (lao động trên 15 tuổi, lao động biết chữ, lao động qua đào tạo) và Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP theo giá so sánh năm 2010).
  • Phương pháp kinh tế lượng: Sử dụng hồi quy dữ liệu bảng (Panel Data Regression) với 12 tỉnh ĐBSCL trong giai đoạn 2011 - 2018. Tác giả tiến hành ước lượng Mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model - FEM), Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM), thực hiện kiểm định lựa chọn mô hình và áp dụng phương pháp Bình phương bé nhất tổng quát (Generalized Least Squares - GLS) để khắc phục các khuyết tật của mô hình.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về lao động, lực lượng lao động, cơ cấu lao động và mối quan hệ hữu cơ giữa chuyển dịch cơ cấu lao động với tăng trưởng kinh tế.

  • Cơ cấu lao động mang tính khách quan, tính lịch sử và tính xã hội, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.
  • Chuyển dịch cơ cấu lao động tiến bộ phản ánh sự chuyển đổi tỷ trọng lao động từ khu vực có năng suất thấp (nông nghiệp) sang khu vực có năng suất cao hơn (công nghiệp - xây dựng và dịch vụ).
  • Mối quan hệ giữa tăng trưởng và cơ cấu kinh tế: Tăng trưởng GDP phản ánh mặt lượng, trong khi chuyển dịch cơ cấu phản ánh mặt chất của sự phát triển.
  • Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy tiến bộ công nghệ, chênh lệch thu nhập liên ngành, độ co giãn tiêu dùng hàng hóa (quy luật Engel) và mức độ đào tạo nguồn nhân lực là các kênh dẫn truyền chính tác động đến chuyển dịch lao động và tăng trưởng năng suất.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ TĂNG TRƯỞNG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN 2010 - 2018

Chương 2 phân tích thực trạng lao động, năng suất và tăng trưởng kinh tế ở cả cấp độ quốc gia và cấp độ vùng ĐBSCL.

1. Thực trạng cơ cấu lao động và tăng trưởng kinh tế Việt Nam:

  • Dân số và lực lượng lao động: Năm 2018, dân số đạt 94,66 triệu người (sơ bộ), LLLD đạt 54,25 triệu người (chiếm 57,31% dân số). Dân số nông thôn giảm từ 69,5% (2010) xuống 64,26% (2018). Lao động trong độ tuổi 25 - 49 chiếm 60%, lao động trên 50 tuổi có xu hướng tăng lên 27,1% năm 2018.
  • Cơ cấu ngành: Lao động nông nghiệp giảm từ 49,5% (2010) xuống 37,7% (2018); công nghiệp - xây dựng tăng lên 26,7%; dịch vụ đạt 35,6%. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo đạt 21,6% ở nữ và 25,4% ở nam (2018), trong đó khu vực thành thị (39,8%) cao gấp 2,5 lần nông thôn (15,5%).
  • Tăng trưởng và năng suất: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2000 - 2018 đạt 6,8%, năm 2018 đạt đỉnh 7,08%. Tỷ trọng đóng góp vào GDP năm 2018: Dịch vụ chiếm trên 50%, Công nghiệp 34,23%, Nông nghiệp 14,68%. Năng suất lao động theo PPP năm 2018 đạt 11.142 USD, bằng 7,3% Singapore, 19% Malaysia và 37% Thái Lan.
Tiêu chí so sánh (Cả nước) Năm 2010 Năm 2018
Tỷ trọng dân số thành thị / nông thôn (%) 30,50 / 69,50 35,74 / 64,26
Tỷ lệ lao động theo ngành (Nông nghiệp / CN-XD / Dịch vụ) (%) 49,50 / 21,00 / 29,50 37,70 / 26,70 / 35,60
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi qua đào tạo (Thành thị / Nông thôn) (%) 31,60 / 8,90 39,80 / 15,50
Tỷ trọng đóng góp GDP (Nông nghiệp / Công nghiệp / Dịch vụ) (%) 18,66 / 38,00 / 43,34 14,68 / 34,23 / 51,09

2. Thực trạng cơ cấu lao động và tăng trưởng vùng ĐBSCL:

  • Dân số và di cư: Dân số nam tăng từ 8.098,6 nghìn người (2002) lên 8.810,3 nghìn người (2018); dân số nữ tăng từ 8.434,6 nghìn lên 8.994,4 nghìn người. Dân số nông thôn giảm từ 13.560,0 nghìn người (2002) xuống 13.253,8 nghìn người (2018). Tỷ suất di cư thuần liên tục âm (-8,4‰ năm 2009-2010; -5,8‰ năm 2018 do xuất cư 6,8‰ cao gấp 6,8 lần nhập cư 1,0‰).
  • Chất lượng lao động: Tỷ lệ dân số trên 15 tuổi biết chữ đạt 92,8% (2018). Tỷ lệ lao động trên 15 tuổi đang làm việc qua đào tạo tăng từ 7,0% (2009) lên 13,3% (2018), vẫn ở mức rất thấp so với mặt bằng chung.
  • Cơ cấu lao động và GRDP vùng: Lao động nông nghiệp giảm từ 49,45% (2010) xuống 36,18% (2018); lao động dịch vụ tăng lên 32,03%. Trong cơ cấu GRDP 12 tỉnh, nông nghiệp giảm từ 38,4% (2010) xuống 29,5% (2018); dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất 39,5%.
  • Năng suất lao động và GRDP cấp tỉnh: Năm 2018, Long An có quy mô GRDP cao nhất đạt 66.556 tỷ đồng (nhờ công nghiệp chiếm 48,81%), Hậu Giang thấp nhất đạt 19.558 tỷ đồng. Năng suất lao động Cần Thơ dẫn đầu vùng (84,92 - 89,98 triệu đồng/người năm 2018, vượt mức trung bình cả nước 73,84 triệu đồng/người).
Tỉnh / Thành phố vùng ĐBSCL GRDP 2010 (Tỷ đồng) GRDP 2018 (Tỷ đồng) Cơ cấu GRDP 2018 (NN / CN-XD / DV) (%) NSLĐ 2010 (Tr.đ/người) NSLĐ 2018 (Tr.đ/người)
Long An 34.762 66.556 18,45 / 48,81 / 32,73 32,55 50,28
Tiền Giang 32.924 57.095 36,72 / 29,86 / 29,45 24,59 37,51
Bến Tre 19.490 30.410 33,16 / 21,21 / 43,17 25,94 46,35
Trà Vinh 15.149 28.703 36,84 / 28,32 / 34,82 35,14 52,80
Vĩnh Long 21.535 33.625 31,67 / 21,02 / 42,04 30,89 43,59
Đồng Tháp 30.537 49.568 34,50 / 28,98 / 33,27 31,01 47,74
An Giang 38.923 58.953 30,78 / 17,40 / 50,43 45,64 62,97
Kiên Giang 44.069 63.556 34,26 / 22,25 / 40,62 64,40 89,98
Cần Thơ 43.840 65.722 8,38 / 38,14 / 47,72 30,51 40,64
Hậu Giang 13.941 19.558 30,92 / 25,31 / 42,21 29,33 47,48
Sóc Trăng 22.360 35.029 40,32 / 19,97 / 38,52 34,09 49,49
Bạc Liêu 16.630 25.586 40,81 / 17,75 / 39,96 40,69 73,84

CHƯƠNG 3: LƯỢNG HÓA TÁC ĐỘNG CỦA CDCCLD ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở ĐBSCL

Chương 3 xây dựng khung phân tích thực nghiệm lượng hóa mối quan hệ giữa biến động cơ cấu lao động và tăng trưởng kinh tế tại 12 tỉnh vùng ĐBSCL.

  • Thiết lập dữ liệu: Số liệu bảng cân bằng thu thập cho 12 tỉnh từ năm 2010 đến 2018 (bộ dữ liệu ước lượng mô hình giai đoạn 2011 - 2018).
  • Các biến số trong mô hình:
    • Biến phụ thuộc: Tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) hoặc Năng suất lao động (NSLD).
    • Biến giải thích cơ cấu lao động: Tỷ lệ lao động nông nghiệp (TLNN), tỷ lệ lao động công nghiệp (TLCN), tỷ lệ lao động dịch vụ (TLDV).
    • Biến năng suất ngành: Năng suất lao động nông nghiệp (NSNN), công nghiệp (NSCN), dịch vụ (NSDV).
    • Biến kiểm soát về nhân khẩu học và chất lượng lao động: Tỷ lệ lao động qua đào tạo (LDDT), tỷ lệ dân số biết chữ (DSBC), tỷ lệ tăng dân số (TDS), tỷ suất di cư thuần (DCT).
  • Quy trình ước lượng và kiểm định:
    • Tiến hành thống kê mô tả biến số và kiểm định tương quan giữa các biến giải thích và biến phụ thuộc.
    • Ước lượng mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
    • Thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình thích hợp; kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan.
    • Sử dụng phương pháp Bình phương bé nhất tổng quát (GLS) nhằm xử lý các khuyết tật phương sai sai số thay đổi và tự tương quan trong dữ liệu mảng, đảm bảo các hệ số ước lượng vững và không chệch.

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và ước lượng thực nghiệm, chương 4 chỉ ra xu hướng phát triển và đề xuất các nhóm khuyến nghị chính sách:

  • Bối cảnh và xu hướng: ĐBSCL đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, di cư lao động tự do và yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, phát triển công nghiệp chế biến và dịch vụ logistics.
  • Nhóm định hướng và kiến nghị:
    1. Đẩy mạnh đào tạo nghề, nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 13,3% để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của khu vực công nghiệp và dịch vụ.
    2. Quy hoạch và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế vùng gắn liền với liên kết vùng, khai thác lợi thế công nghiệp chế biến nông - thủy sản tại các tỉnh trọng điểm (như Long An, Cần Thơ, Kiên Giang).
    3. Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm tại chỗ nhằm giảm bớt áp lực xuất cư thuần của lực lượng lao động trẻ.
    4. Ứng dụng khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa nông nghiệp để nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, tạo điều kiện chuyển dịch lao động dôi dư sang các ngành có giá trị gia tăng cao.

Kết quả và đóng góp

  1. Kết quả nghiên cứu chính:

    • Đánh giá toàn diện bức tranh chuyển dịch lao động tại ĐBSCL giai đoạn 2010 - 2018: Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 49,45% xuống 36,18%, lao động dịch vụ tăng lên 32,03% và công nghiệp tăng 4,44%.
    • Nhận diện rõ điểm nghẽn về chất lượng nguồn nhân lực: Tỷ lệ lao động qua đào tạo vùng ĐBSCL năm 2018 mới đạt 13,3%, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của cả nước (trên 21%).
    • Minh chứng tình trạng dịch chuyển dân cư bất lợi: Tỷ suất di cư thuần liên tục duy trì ở mức âm (-5,8‰ năm 2018; tỷ suất xuất cư 6,8‰ cao gấp 6,8 lần nhập cư), dẫn đến nguy cơ hao hụt nguồn nhân lực trẻ.
    • Làm rõ sự phân hóa tăng trưởng GRDP và năng suất giữa các tỉnh: Long An dẫn đầu về quy mô GRDP (66.556 tỷ đồng năm 2018) nhờ chuyển dịch mạnh sang công nghiệp (48,81%); Cần Thơ dẫn đầu về năng suất lao động và tỷ trọng dịch vụ (47,72%).
    • Xây dựng quy trình ước lượng định lượng hồi quy dữ liệu bảng (FEM, REM, GLS) kiểm định tác động của chuyển dịch cơ cấu và năng suất ngành đến tăng trưởng GRDP 12 tỉnh.
  2. Đóng góp của đề tài:

    • Về mặt lý luận và thực nghiệm: Bổ sung bằng chứng kinh tế lượng định lượng trên dữ liệu bảng cấp tỉnh (12 tỉnh ĐBSCL), khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam vốn chủ yếu dừng lại ở phân tích định tính hoặc khảo sát phạm vi hẹp tại một địa phương đơn lẻ.
    • Về mặt thực tiễn: Cung cấp hệ thống dữ liệu chi tiết về biến động lao động, năng suất và GRDP giai đoạn 2010 - 2018 làm căn cứ hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực và tái cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Chuỗi số liệu phân tích dừng lại ở giai đoạn 2010 - 2018 theo niên giám thống kê, chưa cập nhật được các tác động mới phát sinh từ biến động kinh tế vĩ mô và dịch bệnh sau năm 2019.
    • Phạm vi dữ liệu kinh tế lượng tập trung ở cấp ngành lớn (nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ) của 12 tỉnh, chưa đi sâu phân tích ở cấp phân ngành chi tiết (như công nghiệp chế biến chế tạo, du lịch, logistics) hoặc dữ liệu vi mô cấp doanh nghiệp và nông hộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khung thời gian nghiên cứu cập nhật giai đoạn sau 2018.
    • Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng không gian (Spatial Panel Econometrics) hoặc phương pháp hạch toán tăng trưởng phân rã dịch chuyển tĩnh/động (Shift-Share Analysis) chuyên sâu để đo lường hiệu ứng lan tỏa giữa các tiểu vùng sinh thái tại ĐBSCL.

Giá trị tham khảo

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Kinh tế học, Kinh tế phát triển, Kinh tế nguồn nhân lực: Tham khảo cấu trúc bài khóa luận chuẩn mực, cách thức hệ thống hóa tổng quan nghiên cứu trong nước/quốc tế và phương pháp xử lý số liệu bảng (FEM, REM, GLS).
  • Nhà nghiên cứu kinh tế vùng: Khai thác chuỗi số liệu thống kê chi tiết giai đoạn 2010 - 2018 về dân số, tỷ suất di cư, chất lượng lao động, năng suất ngành và GRDP của 12 tỉnh ĐBSCL.
  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Tham khảo các phân tích thực trạng điểm nghẽn nguồn nhân lực và cơ sở đề xuất chính sách chuyển dịch lao động, đào tạo nghề tại khu vực Tây Nam Bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo tại vùng ĐBSCL trong giai đoạn nghiên cứu thay đổi như thế nào?
Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo của vùng ĐBSCL tăng từ 7,0% năm 2009 (7,9% năm 2010) lên 13,3% vào năm 2018. Mặc dù có xu hướng tăng đều qua các năm nhưng mức 13,3% năm 2018 vẫn ở mức rất thấp so với mặt bằng chung cả nước.

2. Thực trạng di cư thuần của vùng ĐBSCL giai đoạn 2005 - 2018 diễn ra ra sao?
Tỷ suất di cư thuần của vùng luôn ở mức âm trong toàn bộ giai đoạn 2005 - 2018 (thấp nhất vào giai đoạn 2009 - 2010 với -8,4‰). Đến năm 2018, tỷ suất nhập cư của vùng chỉ đạt 1,0‰ trong khi tỷ suất xuất cư lên tới 6,8‰ (gấp 6,8 lần nhập cư), dẫn đến tỷ suất di cư thuần là -5,8‰ do người dân di cư tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn ngoài vùng nông nghiệp.

3. Tỉnh nào tại ĐBSCL có quy mô GRDP cao nhất vào năm 2018 và nguyên nhân là gì?
Năm 2018, Long An là tỉnh có quy mô GRDP cao nhất trong 12 tỉnh vùng ĐBSCL với 66.556 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do Long An có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ sang công nghiệp, với tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng đóng góp tới 48,81% trong GRDP của tỉnh (cao nhất toàn vùng).

4. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu GRDP của 12 tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2010 - 2018 có điểm tương đồng gì?
Cả cơ cấu lao động và cơ cấu GRDP của vùng ĐBSCL đều chuyển dịch đồng thuận theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Cụ thể: lao động nông nghiệp giảm từ 49,45% (2010) xuống 36,18% (2018), tỷ trọng GRDP nông nghiệp giảm từ 38,4% xuống 29,5%; lao động dịch vụ tăng lên 32,03% và tỷ trọng GRDP dịch vụ chiếm cao nhất toàn vùng đạt 39,5% năm 2018.

5. Phương pháp kinh tế lượng chính được tác giả lựa chọn để lượng hóa tác động trong đề tài là gì?
Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (Panel Data Regression), thực hiện ước lượng mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), kiểm định Hausman và sử dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (GLS) để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, đánh giá tác động của các biến cơ cấu lao động và năng suất đến tăng trưởng kinh tế 12 tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2011 - 2018.


Kết luận

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Hợp đã phản ánh hệ thống và chuẩn xác thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng trưởng kinh tế tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010 - 2018. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích thống kê mô tả với mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng (GLS), nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ tác động tích cực của chuyển dịch lao động liên ngành và năng suất ngành đối với tăng trưởng GRDP của 12 tỉnh. Các phát hiện về điểm nghẽn chất lượng lao động (tỷ lệ qua đào tạo chỉ đạt 13,3%) và tình trạng xuất cư thuần âm kéo dài là cơ sở khoa học quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL bền vững.