CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUỖI CUNG ỨNG NGUYÊN PHỤ LIỆU TRONG NGÀNH DỆT MAY 1. Lý thuyết về mạng sản xuất, chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng 1. Lý thuyết về mạng sản xuất và mạng sản xuất toàn cầu 1. Khái niệm mạng sản xuất và mạng sản xuất toàn cầu Cách tiếp cận mạng sản xuất được phát triển bởi Ernst, Henderson và các cộng sự (2002, 2004) dựa trên nền tảng của chuỗi hàng hóa toàn cầu.
Theo Henderson và các cộng sự (2002), mạng sản xuất được định nghĩa là một mạng lưới các doanh nghiệp tham gia vào quá trình nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế, sản xuất và marketing một sản phẩm cụ thể. Nói cách khác, mạng sản xuất mô tả mối quan hệ giữa các chức năng và hoạt động có mối liên kết với nhau nhằm sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Quan hệ giữa các doanh nghiệp tham gia vào mạng sản xuất không bị chi phối bởi quan hệ sở hữu, mà chủ yếu là bị chi phối bởi các cam kết hợp đồng. Mạng sản xuất được hình thành chủ yếu dựa trên lợi thế so sánh của mỗi doanh nghiệp trên mỗi khu vực địa lý khác nhau nhằm liên kết sản xuất và phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng với chi phí thấp nhất và có lợi nhuận cao nhất.
Các hoạt động trong mạng sản xuất có thể được phân bố trong biên giới của một quốc gia hay vượt ra ngoài biên giới một quốc gia phụ thuộc vào lợi thế so sánh, nhu cầu đối ứng và chi phí vận chuyển. Như vậy, mạng sản xuất sẽ có phạm vi địa phương, nội địa, quốc tế, hay toàn cầu tùy thuộc vào phạm vi của các hoạt động trong mạng sản xuất đó. Theo Sturgeon (2002 ), một mạng sản xuất bao hàm các mối liên kết giữa các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động từ sản xuất đến tiêu dùng trên ít nhất hai lục địa hay khu vực mậu dịch tự do khác nhau thì được coi là mạng 9 sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, việc phân loại các mạng sản xuất theo phạm vi chỉ mang tính chất tương đối.
Ngoài ra, nếu nhìn từ góc độ biên giới công ty, một mạng sản xuất có thể mang hình thái mạng sản xuất nội bộ công ty và mạng sản xuất liên công ty. Mạng sản xuất nội bộ công ty bao gồm các mối liên kết sở hữu giữa các chi nhánh trong một công ty ở các vị trí địa lý khác nhau. Đó thường là một kiểu công ty đa quốc gia liên kết theo chiều dọc; mặc dù quá trình sản xuất được đưa ra nước ngoài song chủ yếu vẫn nằm trong sự kiểm soát của công ty thông qua sở hữu. Trong trường hợp này, sự điều phối và kiểm soát sản phẩm và các hoạt động liên quan được nội bộ hóa trong phạm vi công ty.
Khi các chi nhánh phân bố ở nhiều nước khác nhau, nó trở thành mạng sản xuất quốc tế nội bộ công ty. Ngoài ra còn có mạng sản xuất liên công ty gắn với quá trình thuê ra bên ngoài. Trong mạng lưới sản xuất liên công ty, các doanh nghiệp độc lập- các nhà sản xuất, các nhà cung ứng và các nhà bán lẻ liên kết với nhau thông qua đa dạng các mối liên hệ như thầu phụ, hợp đồng marketing, bán giấy phép, chuẩn mực công nghệ chung và chia sẻ chuẩn mực quy trình và chuẩn mực sản phẩm để hoàn thành các công đoạn trong mạng sản xuất. Một mạng sản xuất bao hàm các liên kết phi sở hữu giữa các doanh nghiệp độc lập ở các nước khác nhau tạo thành mạng sản xuất quốc tế liên công ty.
Mạng sản xuất quốc tế liên công ty thường được gọi là mạng sản xuất toàn cầu. Mạng sản xuất toàn cầu là mạng lưới (hay hệ thống) các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới liên kết chặt chẽ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, cùng tham gia vào việc sản xuất, phân phối, cung cấp các dịch vụ bảo dưỡng, bảo hành trong quá trình sử dụng một sản phẩm. Sự ra đời và phát triển của mạng sản xuất toàn cầu là kết quả, đồng thời cũng là biểu hiện của quá trình toàn cầu hoá kinh tế dưới tác động của cuộc 10 cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại; việc sản xuất các chi tiết, bộ phận của sản phẩm đều được tiêu chuẩn hoá hết sức chặt chẽ, nghiêm ngặt nên dù sản xuất ở đâu thì đều đáp ứng được yêu cầu về chất lượng sản phẩm. Việc tạo thành mạng sản xuất toàn cầu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đi sâu vào chuyên môn hóa sản suất, nâng cao năng suất lao động và phát huy được lợi thế sản xuất sản phẩm quy mô lớn, hạ giá thành sản phẩm.
Mạng sản xuất toàn cầu được xem là một sự phát triển vượt bậc về quản lý sản xuất gắn với toàn cầu hóa và sự phát triển công nghệ. Nếu như trong mạng sản xuất nội bộ công ty, sự tiến triển thể hiện duy nhất ở một quá trình tái cấu trúc thông qua tái phân bổ về mặt địa lý thì trong mạng sản xuất toàn cầu, sự phát triển thể hiện trên hai quá trình tái cấu trúc kết hợp, tái phân bổ về mặt địa lý ra ngoài biên giới quốc gia và tái tổ chức các hoạt động sản xuất ra ngoài biên giới công ty. Trong mạng lưới sản xuất, các doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ, phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, nhưng vẫn có những doanh nghiệp đóng vai trò công ty mẹ, nắm vai trò chi phối về vốn, về khoa học - công nghệ, là người tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp trong mạng lưới để lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh. Đây chính là các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia của các nước kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Canada,.
Mạng sản xuất toàn cầu phản ánh sự tiến hóa tổ chức và chiến lược nhờ thay đổi công nghệ, đổi mới quản lý và áp lực cạnh tranh. Thách thức cơ bản cho sự tồn tại của một mạng sản xuất chính là cách tổ chức hay quản lý để tạo ra sự phối hợp giữa các hoạt động trong mạng, đặc biệt là khi các hoạt động diễn ra trên quy mô xuyên quốc gia. Trong mạng sản xuất, những công ty sản xuất đứng đầu nắm những công đoạn cốt lõi nhất, có tính quyết định nhất đến giá trị gia tăng của sản 11 phẩm. Công ty đứng đầu thường là trái tim của mạng lưới, thực hiện sự lãnh đạo tổ chức và chiến lược đối với các nguồn lực.
Công ty đứng đầu thực hiện việc chia nhỏ mạng sản xuất thành các chức năng khác nhau và phân bổ chúng đến nơi nào thực hiện một cách hiệu quả nhất. Công ty đứng đầu tạo ra sức mạnh cho mình từ việc kiểm soát các nguồn lực và năng lực quan trọng nhất liên quan đến đổi mới, điều phối giao dịch và trao đổi kiến thức giữa các cấu phần mạng lưới. Về cơ bản, thành phần tham gia của mạng sản xuất bao gồm công ty đứng đầu, các nhà cung ứng toàn cầu và các nhà cung ứng địa phương. Các dạng cấu trúc mạng sản xuất toàn cầu Có hai loại mạng sản xuất phổ biến là mạng sản xuất do nhà sản xuất chi phối và mạng sản xuất do nhà bán lẻ chi phối.
Thứ nhất, mạng sản xuất do nhà sản xuất chi phối là nơi mà công ty dẫn đầu, đóng vai trò trung tâm trong việc kiểm soát tương đối chặt chẽ việc điều phối mạng lưới các chi nhánh và các nhà cung ứng nằm rải rác về địa lý. Công ty dẫn đầu thường kiểm soát các hoạt động nghiên cứu triển khai, thiết kế và sáng tạo sản phẩm. Mạng lưới sản xuất này thường có đặc trưng là gắn với các sản phẩm có hàm lượng vốn và công nghệ cao như ô tô, viễn thông, điện tử và bán dẫn. Do vậy, để trở thành một nhà cung ứng trong mạng sản xuất kiểu này đòi hỏi phải có một trình độ năng lực công nghệ tinh xảo.
Việc chuyển giao công nghệ và kiến thức là một lợi ích quan trọng của việc tham gia cung ứng trong loại mạng do nhà sản xuất chi phối. Ví dụ, công ty Sony khi thực hiện thuê ra bên ngoài đã đưa ra những yêu cầu cao về tiêu chuẩn đối với nhà cung ứng như năng lực công nghệ mạnh, linh hoạt trong phản ứng, định hướng dịch vụ khách hàng tốt và năng lực làm việc với các hệ thống mua sắm dựa trên công nghệ thông tin và mạng điện tử của Sony. 12 Thứ hai, mạng sản xuất do nhà bán lẻ chi phối: loại mạng sản xuất này có xu thế hoạt động mạnh trong các ngành sử dụng nhiều lao động chuyên sản xuất hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, chế biến nông sản và điện tử tiêu dùng. Yêu cầu để tham gia vào mạng lưới này về cơ bản là không cao và tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho các nhà sản xuất ở các nước đang phát triển bao gồm cả các công ty vừa và nhỏ.
Mạng sản xuất do nhà bán lẻ chi phối đôi khi được gọi là “mạng sản xuất hướng về khách hàng”. Các mạng sản xuất hướng về khách hàng là những mạng có các nhà bán lẻ, nhà marketing, và các nhà làm thương hiệu lớn đóng vai trò chủ chốt trong việc lập ra những mạng lưới sản xuất phân tán ở các nước xuất khẩu khác nhau trong các ngành sử dụng nhiều lao động. Đặc trưng của mạng sản xuất hướng về khách hàng là các nhà bán lẻ đặt hàng chuyên dụng cho các cơ sở sản xuất ở các nước đang phát triển với những hợp đồng lớn đến mức có thể chi phối các cơ sở cung ứng. Mạng sản xuất hướng về khách hàng có tính cạnh tranh cao, mức phân tán toàn cầu lớn và các hàng rào thâm nhập thấp.
Tuy nhiên, từ năm 2000 cho đến nay, mạng sản xuất do nhà sản xuất chi phối, chủ yếu là các công ty chế tạo khổng lồ ví dụ như IBM, GM, … đã có những thay đổi đáng kể. Họ thực hiện thuê ra bên ngoài nhiều hơn, giảm liên kết dọc và tăng cường liên kết mạng lưới. Những thay đổi này đã khiến cho công ty sản xuất đứng đầu ngày càng dịch chuyển gần hơn đến vị thế của người mua toàn cầu. Điều này phần nào làm giảm dần sự khác biệt lớn ban đầu trong khái niệm mạng sản xuất do nhà sản xuất chi phối và mạng sản xuất do người mua chi phối.