Chương 1: Tổng quan đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết về Marketing và chiến lược Marketing - mix Chương 3: Phân tích thực trạng về chiến lược Marketing - mix 4 0 0 Chương 4: Đề xuất và giải pháp Chương 5: Kết luận 5 0 0 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MARKETING VÀ CHIẾN LƯỢC MARKETING – MIX 2. KHÁI NIỆM VỀ MARKETING 2. Khái niệm Marketing Marketing là một hoạt động phổ biến trong xã hội ngày nay, nó đã và đang dần trở nên quen thuộc với đại đa số mọi người. Có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về Marketing nhưng chúng ta có thể hiểu khái quát: Marketing hay còn gọi là tiếp thị là toàn bộ quá trình thu hút khách hàng quan tâm tới sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.
Marketing bao gồm các việc nghiên cứu, quảng bá, bán và phân phối các sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp. Dưới đây là một số quan điểm và khái niệm Marketing hiện đại từ các tổ chức, hiệp hội, gần đây được các nhà nghiên cứu Marketing trên thế giới chấp nhận, sử dụng rộng rãi: Theo Philip Kotler và Gary Amstrong (Philip T. Kotler & Gary Armstrong- Principles): “Marketing là quá trình các doanh nghiệp thu hút khách hàng, xây dựng mối quan hệ khách hàng bền chặt và tạo ra giá trị cho khách hàng nhằm đổi lại giá trị từ khách hàng. Kotler & Gary Armstrong-Principles, 2017, tr.
Theo Hiệp Hội Marketing Hoa Kỳ (American Marketing Associate): “Marketing là hoạt động, tập hợp các thể chế và quy trình nhằm xây dựng, giao tiếp, cung cấp và trao đổi các dịch vụ có giá trị cho khách hàng, đối tác cũng như cả xã hội nói chung.” (American Marketing Associate, 2017, tr. Theo CIM (UK’s Chartered Institute of Marketing): “Marketing là một quy trình quản trị nhận biết, dự đoán và đáp ứng những nhu cầu của khách hàng một cách hiệu quả và có lợi. Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể rút ra được những điều sau: Marketing là một hoạt động mang tính xã hội hướng tới việc thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng và tạo ra giá trị lợi nhuận cho công ty. Để biết thị trường và khách hàng cần gì, nhà sản xuất phải nghiên cứu kỹ càng thị trường, linh hoạt trong công cuộc ứng phó với thay đổi dù nhỏ nhất của thị trường.
Marketing gắn với các phòng ban, tổ chức, quản lý và đòi hỏi phải đẩy nhanh tiến bộ khoa học công nghệ trong các khâu sản xuất kinh doanh. Vì vậy, Marketing còn được hiểu là tổng hợp của nhiều hoạt động với mục đích rõ ràng, kế hoạch cụ thể. Và, các doanh nghiệp chỉ bán những gì thị trường cần chứ không bán cái mình có, hoặc tạo ra nhu cầu và thỏa mãn những nhu cầu đó của khách hàng nhằm tạo ra lợi ích kinh doanh. Vai trò và chức năng của Marketing Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, các doanh nghiệp nhận thấy rằng họ không thể tách rời mọi hoạt động kinh doanh khỏi thị trường, cũng không thể hoạt động đơn lẻ.
Muốn tồn tại và phát triển, các công ty phải luôn năng động, linh hoạt định hướng theo thị trường. Vậy nên Marketing đóng một vai trò to lớn đối với họ. Marketing là cầu nối giữa công ty với thị trường, đảm bảo các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đi theo theo thị trường, lấy thị trường làm mục tiêu. Nói cách khác, Marketing có nhiệm vụ lôi kéo khách hàng cho doanh nghiệp.
Lợi ích kinh doanh chỉ thu được nếu nhu cầu của khách hàng được đáp ứng và thỏa mãn. Marketing còn là yếu tố cốt lõi để các công ty định vị thương hiệu trên thị trường và đi đến thành công. Sử dụng Marketing trong công tác hoạch định chiến lược kinh doanh giúp các công ty thực hiện đúng phương châm kế hoạch xuất phát từ thị trường, từ đó thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các ngành và phát triển kinh tế xã hội. Nếu không có Marketing, thương hiệu của một công ty sẽ không được chiếu sáng và tổ chức của doanh nghiệp sẽ trở nên vô hồn.
Thành công của tổ chức không chỉ được xác định bởi việc áp dụng hợp lý nguồn vốn vào các danh mục đầu tư khác nhau mà còn dựa vào mối quan hệ được thiết lập với khách hàng. Vậy Marketing có những chức năng gì? Đầu tiên là chức năng nghiên cứu, phân tích thị trường để thoả mãn mức nhu cầu cao nhất của thị trường. Thị trường phức tạp với nhiều loại khách hàng có các nhu cầu tiêu dùng khác nhau. Có những nhu cầu đã xuất hiện, nhu cầu đang tiềm ẩn và cả nhu cầu đang lụi tàn dần.
Phát hiện nhu cầu, tìm ra các biện pháp phù hợp để khai thác, định hướng phát triển, thoả mãn tối đa nhu cầu thị trường chính là nhiệm vụ của Marketing. Thứ hai, chức năng thích ứng sản phẩm. Các công ty có thể tăng trưởng khả năng thích ứng, xây dựng thế chủ động khi điều kiện thị trường thường xuyên biến đổi, tăng cường hiệu quả kinh doanh với chức năng. Thứ ba, chức năng tổ chức và hoàn thiện hệ thống phân phối.
Các doanh nghiệp phải thông qua các kênh, hệ thống phân phối để đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nó không chỉ đưa sản phẩm/ dịch vụ đến tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng nhất mà còn tiết kiệm chi phí một cách tốt nhất. Thứ tư là chức năng tiêu dùng. Về mặt thương mại, sản phẩm luân chuyển nhanh sẽ kích thích sản xuất phát triển, tăng tốc độ luân chuyển vốn, giảm thiểu rủi ro.
Để đẩy nhanh quá trình tiêu thụ, ngoài việc thực hiện chính sách sản phẩm, chính sách lưu thông hàng hoá, các công ty cũng cần quan tâm đến các chính sách giá cả và các phương pháp thúc đẩy tiêu thụ và bán hàng mỹ thuật. Thứ năm, chức năng tăng cường hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Toàn bộ hoạt động Marketing phải nhất quán nguyên tắc hiệu quả và hướng tới việc tối đa hoá sản xuất 7 0 0 trong kinh doanh. Quy trình của Marketing Quy trình hoạt động Marketing của một doanh nghiệp thường trải qua 5 bước: R STP MM I C Trong đó: R (Research): Nghiên cứu thị trường S.P (Segmentation – Targeting – Positoning): Phân khúc thị trường – Lựa chọn thị trường theo mục tiêu – định vị.
MM (Marketing – mix): Chiến lược Marketing – mix I (Implementation): Thực thi chiến lược C (Control): Kiểm soát 2. CHIẾN LƯỢC MARKETING – MIX 2. Khái niệm và vai trò của Marketing- mix 2. Khái niệm Chiến lược Marketing - mix (hay còn gọi là tiếp thị hỗn hợp) là một chiến lược Marketing được dùng để quảng bá sản phẩm nhằm tiếp cận được đối tượng khách hàng tiềm năng, thông qua việc mix các yếu tố tiếp thị lại với nhau.1: Thành phần 4Ps trong Marketing – mix (Nguồn: SV tự thực hiện) Marketing - mix là một thuật ngữ được đặt bởi Neil Borden vào năm 1953 được cấu thành từ bốn nhân tố: product (sản phẩm), price (giá cả), place (phân phối), promotion (xúc tiến thương mại).
Tuy nhiên, ngày nay các nhà nghiên cứu đã phát hiện bổ sung thêm 8 0 0 process (quy trình), people (con người), physical evidence (bằng chứng vật lý) để trở thành chiến lược Marketing - mix 7Ps đầy đủ hơn. Thành phần của Marketing – mix Marketing – mix hay chiến lược Marketing - mix là một quá trình phức tạp với nhiều công đoạn đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ và sáng tạo. Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã và đang phát hiện thêm nhiều thành phần mới cấu thành nên một chiến lược Marketing – mix hoàn hảo hơn. Tuy nhiên ở bài nghiên cứu này tác giả chỉ đề cập đến 4Ps phổ biến nhất bao gồm: Product (sản phẩm), Price (giá cả), Place (phân phối) và Promotion (xúc tiến thương mại).
Sản phẩm (Product) Sản phẩm là chữ P đầu tiên trong chiến lược Marketing – mix 4Ps. Bản thân sản phẩm/ dịch vụ vừa là hàng hóa đem ra trao đổi trên thị trường, vừa là yếu tố chiến lược của mỗi công ty. Chất lượng sản phẩm Chất lượng là yếu tố quan trọng nhất đối với mỗi sản phẩm/ dịch vụ. Sản phẩm khi bán ra thị trường đều bắt buộc có chất lượng tốt bởi khách hàng sẽ không bao giờ mua sản phẩm chất lượng kém.
Chất lượng tốt có nghĩa là khả năng thỏa mãn yêu cầu của khách hàng, độ bền đạt chuẩn, không có tính độc hại đối với người sử dụng cũng như là môi trường xung quanh. Việc định vị sản phẩm sẽ quyết định mức độ chất lượng sản phẩm cuẩ các doanh nghiệp với nhau (chất lượng cao hơn, thấp hơn hay ngang bằng). Thiết kế Với các sản phẩm hữu hình, yếu tố thiết kế cũng là yếu tố quan trọng không kém. Nội dung và đặc điểm của thiết kế bao gồm: Hình dáng, màu sắc, hình ảnh.
Đặc điểm và nội dung thiết kế phải luôn dựa trên nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Tính năng Các tính năng là yếu tố góp phần tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm/ dịch vụ. Thông thường, bộ phận R&D (Nghiên cứu và Phát triển) cùng bộ phận sản xuất sẽ thực hiện xây dựng tính năng cho sản phẩm/ dịch vụ. Tuy nhiên, các nhà tiếp thị có trách nhiệm trong việc định hình hình ảnh tính năng sản phẩm/ dịch vụ sao cho phù hợp với nhu cầu, mong muốn của khách hàng mục tiêu.
Nhãn hiệu Nhãn hiệu hay thương hiệu là đặc điểm phân biệt của một hoặc một nhóm sản phẩm trên thị trường. Bao gồm tên, logo, hình ảnh, khẩu hiệu. Việc lựa chọn tên, 9 0 0 logo, hình ảnh, khẩu hiệu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc thù của thị trường, đặc điểm của sản phẩm/ dịch vụ, mức độ cạnh tranh, mục tiêu của công ty.Lưu ý, khẩu hiệu phải được đặt sao cho để tạo sự khác biệt với các sản phẩm của đối thủ đồng thời cho khách hàng thấy giá trị của các sản phẩm của công ty theo một cách cụ thể. Đối với doanh nghiệp cung cấp nhiều sản phẩm, có 2 cách đặt tên nhãn hiệu cho các sản phẩm này: Đặt nhãn hiệu riêng biệt cho từng sản phẩm: Đây là hình thức được các công ty sử dụng nhiều nhất.
Nhược điểm của phương pháp này là khá tốn kém cho việc đăng ký và bảo vệ nhãn hiệu, nhưng bù lại là thu hút khách hàng khi họ có sự lựa chọn đa dạng. Đặt nhãn hiệu chung cho các sản phẩm: Phương pháp này phù hợp cho các sản phẩm/ dịch vụ liên quan mật thiết đến nhau. Ưu điểm của phương thức này là tiết kiệm chi phí cho quảng cáo, xây dựng thương hiệu và khi sản phẩm mới được tung ra thị trường sẽ nhanh chóng được nhận biết.