LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Hệ thống tài chính ổn định là hệ thống trong đó các trung gian tài chính, thị trường và cơ sở hạ tầng của thị trường điều chuyển vốn một cách trơn tru giữa người tiết kiệm và nhà đầu tư, và qua đó, giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, nếu hệ thống tài chính không ổn định hay có những bất ổn tài chính xảy ra sẽ không chỉ gây cản trở hoạt động trung gian tài chính mà còn làm giảm hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ, làm trầm trọng thêm tình trạng suy thoái kinh tế, thoái vốn đầu tư và gây áp lực lên tỷ giá, gia tăng chi phí cho ngân sách trong việc giải cứu các tổ chức tài chính. Bên cạnh đó, cùng với sự kết nối và hội nhập ngày càng sâu sắc giữa các thị trường tài chính và nền kinh tế, những cú sốc hay khủng hoảng tài chính tại một thị trường có thể ảnh hưởng và lan truyền đến các bộ phận và quốc gia khác.
Chính vì thế, việc ổn định và lành mạnh hóa hệ thống tài chính là mục tiêu quan trọng, không chỉ đem lại lợi ích cho từng quốc gia mà cho toàn bộ thị trường tài chính thế giới. Thực tế các cuộc khủng hoảng vào cuối những năm 90 và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã minh chứng cho tầm quan trọng của việc kiểm soát rủi ro hệ thống và đảm bảo ổn định tài chính, bởi: (i) Hệ thống tài chính ngày càng phát triển khiến các giao dịch tài chính ngày càng trở nên hiện đại và phức tạp hơn. Sự mở rộng chi nhánh của ngân hàng, các hình thức hợp nhất, sáp nhập xuyên lục địa, sự đa dạng hóa các dịch vụ tài chính đã hình thành nên những định chế đặc biệt quan trọng hệ thống (Systemically important banks- SIFS), tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn. Trong khi đó, những quy định quản lý chưa có sự cập nhật theo kịp những thay đổi nhanh chóng đang diễn ra trong hệ thống đã tạo những lỗ hổng cũng như gây ra khủng hoảng; (ii) Các quốc gia đều có các chính sách tập trung vào từng mục tiêu riêng lẻ trước khủng hoảng như chính sách tiền tệ tập trung vào mục tiêu ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát, chính sách tài khóa tập trung kiểm soát nợ công, tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm…, Việc các chính sách tập trung vào một mục tiêu cũng không đảm bảo rằng hệ thống tài chính ổn luan an 2 định; (iii) Những công cụ giám sát cũng như phòng ngừa bất ổn tài chính được thực hiện rời rạc trước khủng hoảng.
Với sự hình thành các tổ chức tài chính quan trọng SIFS hay sự phát triển nhanh chóng của khu vực ngân hàng ngầm, các công cụ giám sát riêng lẻ không thể không đảm bảo duy trì ổn định mà thay vào đó, cần những chính sách tổng thể để đảm bảo phòng ngừa, và hạn chế những rủi ro mang tính hệ thống, là nguồn gốc gây ra bất ổn tài chính. Các cuộc khủng hoảng này đã giúp các nhà hoạch định chính sách nhìn nhận lại mục tiêu điều hành của mình, trong đó, mục tiêu ổn định tài chính, an toàn kinh tế vĩ mô là vô cùng quan trọng và cần được đặt cạnh mục tiêu lạm phát. Mặc dù đã được đề cập từ khá lâu trong các nghiên cứu độc lập, ổn định tài chính chính thức được quan tâm một cách nghiêm túc sau khi Ủy ban ổn định tài chính (Financial Stability Board-FSB) được thành lập năm 2009 với sự tham gia của nhiều quốc gia phát triển và đang phát triển. Để có thể thực thi mục tiêu ổn định tài chính cần có khuôn khổ chính sách với sự kết hợp của nhiều quy định thể chế và công cụ.
Trong đó, một trong những bước đầu tiên và quan trọng nhất là đo lường ổn định tài chính. Là một mục tiêu đa chiều do mối quan hệ phức tạp giữa các thành phần trong hệ thống tài chính và với các khu vực bên ngoài, ổn định tài chính khó có thể được đo lường qua một chỉ tiêu riêng lẻ mà cần một bộ chỉ số với nhiều chỉ tiêu để xác định mức độ ổn định, lành mạnh của các cấu phần trọng yếu. Để giúp đỡ các quốc gia trong công tác đo lường ổn định hệ thống tài chính, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã xây dựng và công bố bộ chỉ số lành mạnh tài chính (Financial Soundness Indicators – FSIs), Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) với bộ chỉ số an toàn vĩ mô (Macroprudential Indicators – MPIs) giúp đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của từng hệ thống tài chính. Các bộ chỉ số được thiết kế như một công cụ tham khảo hữu hiệu cho các quốc gia trong việc phát hiện rủi ro hệ thống tiềm tàng, tự đánh giá mức độ ổn định tài chính, từ đó có những biện pháp để hạn chế tối đa tác động tiêu cực từ những rủi ro này.
Tuy nhiên, mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng biệt về tình hình kinh tế, chính trị, cấu trúc hệ thống tài chính, kỳ vọng thị luan an 3 trường…, vì thế, tiêu chuẩn đánh giá hay mức độ rủi ro có thể chấp nhận được tại mỗi nước là không giống nhau. Chính vì thế, việc áp dụng bộ chỉ số này với tiêu chuẩn quốc tế tại các quốc gia mới nổi nói chung và hệ thống tài chính thiếu hoàn thiện như Việt Nam nói riêng là điều không dễ dàng. Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề: “Thiết lập bộ chỉ số xác định mức độ ổn định của hệ thống tài chính Việt Nam” làm đề tài luận án của mình với mong muốn nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như kinh nghiệm quốc tế về ổn định tài chính nói chung và các phương thức xác định mức độ ổn định tài chính nói riêng nhằm tăng cường khả năng áp dụng các bộ chỉ số này trên thực tế. Trên cơ sở kết hợp với bối cảnh của Việt Nam hiện nay, nghiên cứu sẽ đưa ra những gợi ý cho việc thiết lập bộ chỉ số này cũng như các kiến nghị đối với đơn vị liên quan tới vấn đề ổn định tài chính.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Nghiên cứu quốc tế Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 xảy ra đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến hệ thống tài chính của các quốc gia, đặc biệt là những nước có mức độ hội nhập sâu vào thị trường thế giới. Vấn đề ổn định tài chính trở nên quan trọng và nhận được nhiều sự quan tâm hơn từ các tổ chức cũng như các nhà nghiên cứu trên thế giới. Đã có khá nhiều các nghiên cứu được đưa ra về vấn đề này, trong đó, tập trung vào việc làm rõ khái niệm ổn định tài chính, nguyên nhân gây bất ổn tài chính và đo lường ổn định tài chính.
Về khái niệm ổn định tài chính, có khá nhiều các quan điểm đưa ra về ổn định tài chính, từ các tổ chức quốc tế, ngân hàng trung ương các quốc gia cho đến các nhà nghiên cứu. Dưới góc độ các tổ chức quốc tế, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) có đưa ra định nghĩa như sau: “Ổn định tài chính là điều kiện đạt được khi hệ thống tài chính thực hiện đầy đủ các chức năng của nó”. Hệ thống tài chính ổn định còn có thể đạt được khi nó có thể loại bỏ những mất cân bằng tài chính phát sinh trong nội tại hoặc do chịu ảnh hưởng của các cú sốc bất ngờ bên ngoài. Nếu đạt được sự ổn định, hệ thống sẽ hấp thu được các cú sốc luan an 4 chủ yếu qua cơ chế tự điều chỉnh, ngăn ngừa tác động bất lợi của các sự kiện bên ngoài.
Ngân hàng trung ương Hàn Quốc (BOK) cũng định nghĩa ổn định tài chính là khi hệ thống tài chính ổn định. Điều này hàm ý 3 cấu phần hệ thống tài chính – tổ chức tài chính, thị trường tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính được ổn định. Ở một khía cạnh khác, Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) lại cho rằng, ổn định tài chính sẽ đạt được khi những rủi ro hệ thống được ngăn chặn. Trong đó, rủi ro hệ thống được mô tả là rủi ro làm tổn hại đến việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính của hệ thống tài chính, từ đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội.
Một số các nghiên cứu khác như De Bandt and Hartmann (2000), Group of Ten (2001), Hoelscher and Quintyn (2003) và Summer (2003) lại có cách tiếp cận ổn định tài chính tương tự như ECB khi tập trung vào rủi ro hệ thống. Trên góc độ các nhà nghiên cứu độc lập, Houben và cộng sự (2004) định nghĩa ổn định tài chính là khả năng giúp hệ thống kinh tế phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả, đánh giá và quản trị rủi ro tài chính và hấp thụ các cú sốc. Issing (2003) và Foot (2003) gợi ý rằng, ổn định tài chính liên quan đến bong bóng thị trường tài chính hoặc sự biến động của các chỉ số thị trường tài chính. Các bong bóng làm ảnh hưởng đến hiệu quả thị trường tài chính, tuy nhiên, nó không là đặc điểm của đổ vỡ tài chính.
Về nguyên nhân gây bất ổn tài chính, những nghiên cứu của Houben và cộng sự (2004), Nier (2009) IMF (2013) đều cố gắng chỉ ra những rủi ro, nguồn gốc bất ổn cho hệ thống tài chính. Houben (2004) nhìn nhận rủi ro cho hệ thống tài chính theo góc độ từ bên trong và bên ngoài. Trong đó, hệ thống tài chính được chia thành 3 bộ phận chính: các tổ chức tài chính, thị trường tài chính và cơ sở hạ tầng của hệ thống. Những rủi ro cho hệ thống tài chính có thể đến từ nội tại của hệ thống, trong quá trình vận hành và liên kết giữa các bộ phận của hệ thống; và có thể đến từ những cú sốc, những thay đổi bên ngoài hệ thống tài chính.
Nier (2009) lại phân biệt rủi ro trên góc độ vĩ mô và vi mô. Trong đó, rủi ro vĩ mô là rủi ro mang tính tổng hợp, rủi ro kinh tế vĩ mô. Rủi ro vi mô phát sinh từ sự thất bại hoặc đổ vỡ của một tổ chức và lan ra hệ thống theo hướng tiêu cực. IMF (2013) luan an 5 tiếp cận rủi ro trên cơ sở mối liên hệ giữa các rủi ro và phân chia thành rủi ro thuận chu kỳ (theo thời gian) và rủi ro chéo giữa các khu vực.