CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động thẩm định tín dụng tại ngân hàng thương mại 1.1 Những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Theo GS.TS Nguyễn Văn Tiến (Quản trị ngân hàng thương mại, 2013, pg 260): Một cách khái quát, Tín dụng (credit) là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị tài sản (vốn) từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định trên cơ sở tín nhiệm (tin tưởng) người sử dụng vốn hiệu quả để có khả năng hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, phạm trù tín dụng gắn với chuyển nhượng một lượng vốn có ba đặc điểm chính là: tính tạm thời (tính thời hạn), tính hoàn trả với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu và tính chất tin tưởng sử dụng vốn có khả năng hoàn trả đúng hạn.
Theo TS Nguyễn Minh Kiều (Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng, 2009, pg23): Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba bội dung: Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng; Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn; Sự chuyển nhượng này kèm chi phí. Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể rút ra kết luận: “Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản (bằng tiền, tài sản thực) trên cơ sở lòng tin khách hàng có khả năng hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn. Ngân hàng cấp tín dụng bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác”.
Vai trò của tín dụng ngân hàng Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM. Thông qua hoạt động tín dụng, NHTM khẳng định vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển của nền kinh tế, đối với sự phát triển của các doanh nghiệp. * Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế (Nguồn : GS.TS Nguyễn Văn Tiến, Tín dụng ngân hàng) Ngân hàng ra đời gắn liền với sự vận động trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, hoạt động tín dụng đả thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Với hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giải quyết được hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn này bằng cách huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi để phân phối lại vốn trên nguyên tắc có hoàn trả phục vụ kịp thời cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
Mặt khác việc cung ứng vốn một cách kịp thời của tín dụng ngân hàng để đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động, vốn cố định của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục tránh tình trạng ứ tắc, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn để ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Vì thế mà trong nền kinh tế thị trường, mỗi Ngân hàng trong môi trường cạnh tranh phải nâng cao nghệ thuật quản trị kinh doanh trên cơ sở đổi mới công nghệ và nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng, thông qua hoạt động Marketting Ngân hàng và việc nhanh chóng sử dụng thành tựu khoa học kỹ thuật. nhằm thu hút tối đa nguồn vốn tiềm tàng trong nền kinh tế để thực hiện kinh doanh đáp ứng yêu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, góp phần tạo lợi nhuận cho nền kinh tế đồng thời cho bản thân Ngân hàng. * Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ lưu thông hàng hoá quốc tế (Nguồn : GS.TS Nguyễn Văn Tiến , Tín dụng ngân hàng) 12 Tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau.
Bởi lẽ, mỗi một quốc gia muốn phát triển nền kinh tế của mình thì không thể chỉ dựa vào tiềm năng của đất nước mà còn phải mở rộng quan hệ kinh tế ra bên ngoài, tham gia vào nền kinh tế thế giới. Không có một nước nào lại có thể hội tụ đầy đủ các tiềm năng để phát triển kinh tế mọi mặt, mà các nước đều có một lợi thế so sánh đặc biệt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… mà các nước khác không có, do đó nó thường phát sinh quan hệ vay mượn lẫn nhau mà chủ yếu là vốn đầu tư. Thông qua các hình thức như nhận uỷ thác đầu tư, mở và thanh toán thư tín dụng, bảo lãnh hàng hoá xuất nhập khẩu, chuyển tiền nhanh đi các nơi.tín dụng ngân hàng đã trực tiếp tham gia trong quan hệ thanh toán quốc tế, các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, tài trợ cho các hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu, đầu tư chiều sâu, đôi rmới công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất trong nước thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển nhằm phục vụ tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu góp phần tăng trưởng kinh tế và mở ra sự giao lưu giữa nước ta với các nước khác trên thế giới. Ngoài ra với việc tín dụng ngân hàng nhận các nguồn tài trợ như ODA, ESAF.từ các nước cấp tín dụng cũng như các tổ chức tín dụng quốc tế với mục đích tài trợ cho nền kinh tế đã mang lại những kết quả to lớn về kinh tế xã hội đồng thời tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa nước ta với các nước trên thế giới.
* Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá, luân chuyển tiền tệ, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông và kiểm soát lạm phát (Nguồn : GS.TS Nguyễn Văn Tiến , Tín dụng ngân hàng) Khối lượng tiền trong lưu thông sẽ tăng lên thông qua hoạt động tín dụng khi thực hiện hoạt động cho vay và ngược lại sẽ giảm xuống khi thực hiện hoạt động thu nợ, do đó sẽ góp phần điều tiết khối lượng tiền trong toàn bộ nền kinh tế. Ngân hàng sử dụng lãi suất, hạn mức tín dụng thành công cụ để thay đổi khối lượng tiền vay, từ đó điều tiết được khối lượng tiền trong nền kinh tế và kiểm soát được lạm 13 phát. Tín dụng ngân hàng đã kiểm soát được giá cả khi điều tiết được khối lượng tiền tức là khống chế được khối lượng tiền cần thiết cho nhu cầu trao đổi và lưu thông hàng hoá. Hay nói cách khác, việc đưa tiền vào lưu thông qua tín dụng ngân hàng là con đường hữu hiệu nhất bởi vì khối lượng tiền này đã được đảm bảo bằng một lượng giá trị vật tư hàng hoá và tránh được lạm phát tiền tệ.
Mặt khác, việc quản lý vĩ mô đối với các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác thông qua Ngân hàng trung ương, nơi có nhiệm vụ kiểm tra, khảo sát mọi hoạt động của các tổ chức này nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động an toàn và có hiệu quả. Thông qua hoạt động tín dụng các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng trung ương có thể biết được phạm vi, phương hướng đầu tư, hiệu quả đầu tư vào cá ngành kinh tế từ đó có chính sách tiền tệ thích hợp. Chính sách tiền tệ mở rộng tức là bơm thêm tiền vào lưu thông sẽ được Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện nếu nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng, hiệu quả đầu tư vào các ngành trong nền kinh tế cao. Ngược lại, nếu nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái, Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt tức là rút bớt tiền từ lưu thông về.
Chính vì thế Ngân hàng trung ương đã thể kiểm soát, điều tiết lưu thông tiền tệ đảm bảo khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông nhằm ổn định giá trị đồng tiền, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.3 Vấn đề thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại Hai hành vi phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại. Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi ký kết hợp đồng của bên có nhiều thông tin có thể gây tổ hại cho bên ít thông tin hơn. Tâm lý ỷ lại là hành động của bên có nhiều thông tin hơn thực hiện sau khi ký kết hợp đồng có thể gây tổn hại cho bên có ít thông tin hơn. Khi ngân hàng thực hiê ̣n cho vay đố i với ̀ h tra ̣ng thông tin bấ t cân xứng, bởi những lí do khách hàng thì rấ t dễ gă ̣p phải tin sau: Thứ nhất, người đi vay tiềm ẩn rủi ro cao lại là những người tích cực trong 14 việc tìm kiếm các khoản vay.
Ngân hàng không thể có toàn bộ thông tin về khách hàng, về khả năng thu hồi vốn từ khách hàng nên ngân hàng có thể tín dụng được cấp cho người có rủi ro cao còn những người đáng tin cậy lại không được cấp tín dụng. Thứ hai, người đi vay bao giờ cũng hiểu rõ mục đích của những khoản vay. Họ có thể không sử dụng vốn vay vào đúng mục đích đưa ra lúc vay vốn. Trong khi đó Ngân hàng lại không kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng.
Thứ ba, Ngân hàng gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về khách hàng, mọi thông tin chủ yếu dựa vào cảm tính của cán bộ. Thứ tư, khách hàng cố ý che đậy thông tin hay ngụy tạo thông tin giả. Do đó, để đảm bảo an toàn trong hoạt động của mình, bản thân các tổ chức tín dụng phải xử lý thông tin bất cân xứng để hạn chế lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại nhằm cho vay đúng người đúng đối tượng và giám sát chặt chẽ để khách hàng vay vốn có hành vi đúng đắn nhằm đảm việc thu hồi cả gốc và lãi khoản tín dụng đã cấp ra 1. Khái niệm thẩm định tín dụng Theo TS Nguyễn Minh Kiểu: “Thẩm định tín dụng là sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một phương án hoặc dự án mà khách hàng đã xuất trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng”.